Home » VIẾT Z
15
19:35 |
TEST
15
Passenger
kilometers travelled by different means of transport in the UK 1990 and 2000
Phân
tích đề bài
Ø
Dạng bài: Biểu đồ cột
(bar chart)
Ø
Đối tượng đề cập: số
kilometers từng loại phương tiện giao thông
Ø
Thì sử dụng: quá khứ đơn
Phân
tích chi tiết:
Đoạn
tổng quát:
Ø
Nhìn chung, tổng số
kilometer của các phương tiện tăng
Ø
Ngoại trừ Bicycle và
Bike, số kilometers của các loại phương tiện khác đều tăng
Ø
Bus và Rail chạy qua được
nhiều kilometers nhất so với các phương tiện còn lại.
Đoạn
thân bài 1: Bus & Rail
Ø
Năm 1990, số liệu của Bus
là cao nhất, theo sau bởi Rail
Ø
Năm 2000, số liệu của cả
Bus và Rail đều tăng tới cùng mức ngang nhau
Đoạn
thân bài 2: Bicycle, Bike & Air + Total
Ø
Số liệu của Bicycle, Bike
& Air khá thấp. Trong số này, Bike có số kilometer cao nhất năm 1990
Ø
Trong khi số kilometer của
Bicycle và Bike giảm, số liệu của Air tăng
Ø
Tổng kilometer của các
phương tiện tăng ở năm 2000.
|
The bar
graph compares the distances
travelled by people in the UK using different means of transport in 1990 and
2000. Overall,
the total distance travelled by all modes of transport combined
increased. The figures for bus and rail were significantly higher in both
years compared to bicycles, motorbikes, and air travel. In
1990, the figure for kilometres travelled by bus was highest, at around 40
billion kilometres, followed by rail with a slightly lower figure. By the
year 2000, the distances covered by these two modes increased to the same
level, each with approximately 45 billion kilometers. The
amount of kilometres travelled by bicycles, motorbikes and air transport, was
incredibly low in 1990, with motorbikes covering the most distance of the
three modes at around 10 billion passenger kilometers. In 2000, the figure
for air travel rose to about 10 billion kilometers, in contrast to the
decline seen in the other two modes. Finally, the total passenger kilometres
increased from 100 billion to 112.5 billion kilometers in 2000. |
Biểu đồ thanh so sánh khoảng
cách di chuyển của người dân ở Vương quốc Anh bằng các phương tiện giao thông
khác nhau vào năm 1990 và 2000. Nhìn chung, tổng quãng đường di
chuyển của tất cả các phương thức vận tải kết hợp đều tăng. Số liệu về xe
buýt và đường sắt cao hơn đáng kể trong cả hai năm so với xe đạp, xe máy và
du lịch hàng không. Năm 1990, con số km di chuyển bằng
xe buýt là cao nhất, khoảng 40 tỷ km, tiếp theo là đường sắt với con số thấp
hơn một chút. Đến năm 2000, khoảng cách đi được của hai phương thức này tăng
lên như nhau, mỗi phương thức có khoảng 45 tỷ km. Số km di chuyển bằng xe đạp, xe
máy và vận tải hàng không cực kỳ thấp vào năm 1990, trong đó xe máy chiếm khoảng
cách lớn nhất trong ba phương thức với khoảng 10 tỷ km hành khách. Năm 2000,
con số di chuyển bằng đường hàng không tăng lên khoảng 10 tỷ km, trái ngược với
sự suy giảm ở hai phương thức còn lại. Cuối cùng, tổng số km hành khách đã
tăng từ 100 tỷ lên 112,5 tỷ km vào năm 2000. |
14
21:21 |
Passenger kilometers travelled by different means of transport in the IK 1990 and 2000
Phân
tích đề bài
Ø
Dạng bài: Biểu đồ cột
(bar chart)
Ø
Đối tượng đề cập: số kilometers
từng loại phương tiện giao thông
Ø
Thì sử dụng: quá khứ đơn
Phân
tích chi tiết:
Đoạn
tổng quát:
Ø
Nhìn chung, tổng số
kilometer của các phương tiện tăng
Ø
Ngoại trừ Bicycle và
Bike, số kilometers của các loại phương tiện khác đều tăng
Ø
Bus và Rail chạy qua được
nhiều kilometers nhất so với các phương tiện còn lại.
Đoạn
thân bài 1: Bus & Rail
Ø
Năm 1990, số liệu của Bus
là cao nhất, theo sau bởi Rail
Ø
Năm 2000, số liệu của cả
Bus và Rail đều tăng tới cùng mức ngang nhau
Đoạn
thân bài 2: Bicycle, Bike & Air + Total
Ø
Số liệu của Bicycle, Bike
& Air khá thấp. Trong số này, Bike có số kilometer cao nhất năm 1990
Ø
Trong khi số kilometer của
Bicycle và Bike giảm, số liệu của Air tăng
Ø
Tổng kilometer của các
phương tiện tăng ở năm 2000.
|
The bar
graph compares the distances
travelled by people in the UK using different means of transport in 1990 and
2000. Overall,
the total distance travelled by all modes of transport combined
increased. The figures for bus and rail were significantly higher in both
years compared to bicycles, motorbikes, and air travel. In
1990, the figure for kilometres travelled by bus was highest, at around 40
billion kilometres, followed by rail with a slightly lower figure. By the
year 2000, the distances covered by these two modes increased to the same
level, each with approximately 45 billion kilometers. The
amount of kilometres travelled by bicycles, motorbikes and air transport, was
incredibly low in 1990, with motorbikes covering the most distance of the
three modes at around 10 billion passenger kilometers. In 2000, the figure
for air travel rose to about 10 billion kilometers, in contrast to the
decline seen in the other two modes. Finally, the total passenger kilometres
increased from 100 billion to 112.5 billion kilometers in 2000. |
Biểu đồ thanh so sánh khoảng
cách di chuyển của người dân ở Vương quốc Anh bằng các phương tiện giao thông
khác nhau vào năm 1990 và 2000. Nhìn chung, tổng quãng đường di
chuyển của tất cả các phương thức vận tải kết hợp đều tăng. Số liệu về xe
buýt và đường sắt cao hơn đáng kể trong cả hai năm so với xe đạp, xe máy và
du lịch hàng không. Năm 1990, con số km di chuyển bằng
xe buýt là cao nhất, khoảng 40 tỷ km, tiếp theo là đường sắt với con số thấp
hơn một chút. Đến năm 2000, khoảng cách đi được của hai phương thức này tăng
lên như nhau, mỗi phương thức có khoảng 45 tỷ km. |
TEST 13
00:18 |The number of visitors to four London museums
Phân
tích đề bài
Ø
Đối tượng: lượng khách
tham quan của 4 bảo tàng của Anh
Ø
Thì: Quá khứ đơn
Phân
tích chi tiết
Overview:
Ø
Bảo tàng Anh Quốc thu hút
nhiều khách du lịch nhất, còn bảo tàng quốc gia thu hút ít khách nhất.
Ø
Tháng 8 là tháng có nhiều
khách du lịch nhất.
Thân
bài thứ nhất: Miêu tả số liệu tháng 6, 7, 8
Ø
Số lượng khách tham quan
của các bảo tàng trong tháng 6 và tháng 7 là gần bằng nhau.
Ø
Đến tháng 8 số lượng
khách tham quan của bảo tàng Anh Quốc và bảo tàng lịch sử và bảo tàng quốc gia
tăng mạnh trong khi số liệu của bảo tàng khoa học gần như không thay đổi
Thân
bài thứ 2: Miêu tả tháng 9, 12
Ø
Số liệu của bảo tàng lịch
sử và bảo tàng quốc gia trong tháng 9 khá giống với tháng 6, 7.
Ø
Số liệu của tháng 12 có đặc
điểm giống với tháng 9 nhưng số liệu của mỗi bảo tàng đều giảm bớt 150,000
khách, ngoại từ số liệu của bảo tàng quốc gia (giữ nguyên).
|
The bar
chart illustrates the number
of people that visited four museums in London. Overall,
the British Museum saw the most visits throughout the year, while the
National Museum saw the least. Furthermore, August was the most popular month
for people to visit museums. The
number of museum visitors in June and July was almost identical, with
around 400,000 visitors at the History Museum, British Museum, and Science,
and only half that figure visiting the National Museum. August was the most
popular month for museum visits, with approximately 600,000 History Museum
visits, 700,000 British Museum visits, 300,000 National Museum visits, and
400,000 Science Museum visits. September
saw similar figures to June and July for the History Museum and National
Museum, but with 600,000 British Museum visits and 500,000 Science museum
visits. December again saw the same trend as September but with approximately
150,000 less visits for each museum, except the National museum which stayed
the same. |
Biểu đồ cột minh họa số lượng
người đã ghé thăm bốn bảo tàng ở London. Nhìn chung, Bảo tàng Anh có nhiều
lượt ghé thăm nhất trong năm, trong khi Bảo tàng Quốc gia có ít lượt ghé thăm
nhất. Hơn nữa, tháng 8 là tháng có nhiều người đến thăm bảo tàng nhất. Số lượng khách tham quan bảo
tàng trong tháng 6 và tháng 7 gần như giống nhau, với khoảng 400.000 khách đến
Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng và Khoa học Anh, và chỉ một nửa con số đó đến thăm
Bảo tàng Quốc gia. Tháng 8 là tháng có nhiều lượt tham quan bảo tàng nhất, với
khoảng 600.000 lượt tham quan Bảo tàng Lịch sử, 700.000 lượt tham quan Bảo
tàng Anh, 300.000 lượt tham quan Bảo tàng Quốc gia và 400.000 lượt tham quan
Bảo tàng Khoa học. Tháng 9 có số liệu tương tự như
tháng 6 và tháng 7 đối với Bảo tàng Lịch sử và Bảo tàng Quốc gia, nhưng với
600.000 lượt tham quan Bảo tàng Anh và 500.000 lượt tham quan bảo tàng Khoa học.
Tháng 12 một lần nữa chứng kiến xu hướng tương tự như tháng 9 nhưng với mỗi
bảo tàng có ít hơn khoảng 150.000 lượt ghé thăm, ngoại trừ Bảo tàng Quốc gia
vẫn giữ nguyên. |
TEST 12
18:50 |The first graph shows the number of train passengers from 2000 to 2009; the second compares the percentage of trains running on time and target in the period.
Phân
tích chi tiết
Mở
bài:
Ø
Đối tượng: số lượng khách
đi tàu hỏa và tỷ lệ tàu đúng giờ từ năm 2000 đến năm 2009
Tổng
quan:
Ø
Số lượng hành khách đi
tàu dao động nhẹ
Ø
Tỉ lệ tàu đúng giờ có xu
hướng tăng
Thân
bài
Biểu
đồ 1
Ø
Liệt kê số hành khách vào
năm 2000, miêu tả xu hướng sau 4 năm
Ø
Vào năm 2005, số lượng
hành khách đi tàu là cao nhất
Ø
Miêu tả sự tăng giảm của
những năm cuối cùng
Biểu
đồ 2
Ø
Số liệu trong 4 năm đầu
và giảm nhẹ vào năm 2006.
Ø
Số liệu tăng vào năm 2008
và giữ nguyên từ đó về sau
|
The charts show the number of
passengers that travelled by train between 2000 and 2009, and the rate at
which they ran on time compared to the target. Overall, it can be seen that
there were only minor fluctuations in the number of rail passengers and the
rate at which trains ran according to schedule increased over the period. In the year 2000, around 38
million people travelled by rail. Following this, the number of rail
passengers fluctuated until it reached a peak of almost 50 million passengers
in 2005. The figure then dropped back down to 40 million in 2008, before
rising to around 42 million in 2009. The frequency at which trains
ran on time in the year 2000 was 92%, compared to the expected target of 95%.
The figure then steadily inclined over the next few years to reach 96% in
2004, before falling back down to 92% in 2006. The figure then quickly
increased up to 97% by 2008, and then maintained this level thereafter. |
Biểu đồ cho thấy số lượng hành
khách đi tàu hỏa từ năm 2000 đến năm 2009 và tỷ lệ họ chạy đúng giờ so với mục
tiêu. Nhìn chung, có thể thấy số lượng hành khách đường sắt chỉ có biến động nhỏ và tốc độ chạy tàu đúng lịch tăng dần trong thời gian qua. Vào năm 2000, có khoảng 38 triệu
người đi lại bằng đường sắt. Sau đó, số lượng hành khách đi đường sắt dao động
cho đến khi đạt đỉnh gần 50 triệu hành khách vào năm 2005. Con số này sau đó
giảm xuống còn 40 triệu vào năm 2008, trước khi tăng lên khoảng 42 triệu vào
năm 2009. Tần suất tàu chạy đúng giờ
trong năm 2000 là 92%, so với mục tiêu dự kiến là 95%. Con số này sau đó có
xu hướng dần dần trong vài năm tiếp theo để đạt 96% vào năm 2004, trước khi
giảm xuống 92% vào năm 2006. Con số này sau đó nhanh chóng tăng lên đến 97%
vào năm 2008 và duy trì mức này sau đó. |
VIẾT 11
18:14 |The percentage of men and women aged 60-64 who were employed in 4 countries in 1970 and 2000
Mở
bài: Viết lại câu hỏi theo cách khác.
Ø
Đoạn tổng quan: Phân
tích những đặc điểm chính của cả 2 biểu đồ bar chart.
Ø
Trong cả hai năm, tỉ lệ
nam tuổi 60-64 có việc làm luôn cao hơn tỉ lệ nữ, bất kể nước nào
Ø
Tỉ lệ có việc làm cho cả
nam và nữ trong cả giảm sau 30 năm.
Đoạn
miêu tả 1: So sánh số liệu giữa hai nước USA & Indonesia
Ø
So sánh tỉ lệ nam tuổi
60-64 của cả hai nước USA & Indonesia.
Ø
So sánh tỉ lệ nữ tuổi
60-64 của cả hai nước USA & Indonesia.
Ø
Chỉ ra sự thay đổi sau 30
năm của cả nam và nữ trong hai nước này.
Đoạn
miêu tả 2: Tả số liệu của nước Belgium và Japan
Ø
Ở năm đầu tiên, Japan có
sự khác biệt lớn nhất giữa tỉ lệ nam và nữ. Tả số liệu cụ thể của nam và nữ của
Japan trong năm 1970.
Ø
Sau 30 năm, sự khác biệt lớn
nhất lại được thấy ở Belgium. Tả số liệu cụ thể của nam và nữ của Belgium trong
năm 2000.
|
The bar charts illustrate the
proportion of men and women that were still working between the ages of 60
and 64 in Belgium, USA, Japan, and Indonesia, in 1970 and 2000. Overall, the employment rate
for both males and females in all four countries saw a substantial decline
over the period. Meanwhile, the proportion of employed males aged 60-64 was
invariably higher than that of their counterparts in the two given years,
regardless of the country. In 1970, roughly 83% of
Indonesian men aged 60-64 were employed, which was second only to the USA, at
86%. The percentage of 60-64 year old
women who were still working in Indonesia and USA was 50% and 76% respectively.
In 2000, while employment rates for males in both mentioned countries
declined by roughly 10%, the percentage of employed females in Indonesia rose
to surpass that of the USA, at 50% compared to 45%. Initially, Japan was the country where the statistical difference between employed males and females was the largest, with 75% of males and 56% of females. However, over the next 30 years, the largest gap was to be seen in Belgium where 51% of males were employed, approximately 40% higher than the figure for females. |
Biểu đồ thanh minh họa tỷ lệ
nam và nữ vẫn đang làm việc trong độ tuổi từ 60 đến 64 ở Bỉ, Mỹ, Nhật Bản và
Indonesia vào năm 1970 và 2000.
Nhìn chung, tỷ lệ việc làm cho
cả nam và nữ ở cả bốn quốc gia đều giảm đáng kể trong giai đoạn này. Trong
khi đó, tỷ lệ nam giới có việc làm ở độ tuổi 60-64 luôn cao hơn so với những
người cùng lứa tuổi trong hai năm nhất định, bất kể quốc gia nào.
Năm 1970, khoảng 83% nam giới
Indonesia trong độ tuổi 60-64 có việc làm, chỉ đứng sau Mỹ với tỷ lệ 86%. Tỷ
lệ phụ nữ 60-64 tuổi vẫn đang làm việc ở Indonesia và Mỹ lần lượt là 50% và
76%. Năm 2000, trong khi tỷ lệ nam giới có việc làm ở cả hai quốc gia nói
trên đều giảm khoảng 10% thì tỷ lệ nữ giới có việc làm ở Indonesia lại tăng
vượt qua tỷ lệ của Hoa Kỳ, ở mức 50% so với 45%.
Ban đầu, Nhật Bản là quốc gia
có sự khác biệt thống kê giữa nam và nữ có việc làm lớn nhất, với 75% nam và
56% nữ. Tuy nhiên, trong 30 năm tiếp theo, khoảng cách lớn nhất được thấy ở Bỉ,
nơi có 51% nam giới có việc làm, cao hơn khoảng 40% so với nữ giới. |
TEST 10
17:50 |
Mở
bài: Giới thiệu nội dung chính của hai biểu đồ
Đoạn
tổng quát (Overview)
Ø
Nước được sử dụng nhiều
nhất cho vegetables và fruits
Ø
Vegetables và fruits cũng
là hai mặt hàng đem lại nhiều thu nhập nhất
Thân
bài 1: Miêu tả số liệu của biểu đồ thứ nhất
Ø
Vegetables chiếm lượng nước
sử dụng nhiều nhất (46%)
Ø
Fruits xếp thứ hai (28%)
Ø
Số liệu của lime (8%) bằng
⅔ số liệu của cereal (12%)
Ø
Rice và dandelion có cùng
số liệu (3%)
Thân
bài 2 Miêu tả số liệu của biểu đồ thứ hai
Ø
40% thu nhập đến từ
fruits, cao hơn 9% so với thu nhập đến từ vegetables trong khi cereal chiếm 12%
Ø
Số liệu của lime và
dandelion bằng nhau (8%)
Ø
Chỉ có 1% thu nhập là đến
từ rice
|
The
first pie chart illustrates
the proportion of water consumed for six different products in 2004. The
second chart indicates the percentage of total income generated from these
products in the same year. Overall,
it can be seen that the largest proportion of water was used for vegetables
and fruits. Besides, these two products were also the major sources of
total income in 2004. Vegetables
accounted for the greatest percentage of water consumed, at 46%. This was
followed by fruits, making up a much lower proportion (28%). The figure for
lime was two-thirds of that for cereal, at 8% and 12%, respectively.
Meanwhile, rice and dandelion shared the same percentage, at 3% each. 40%
of total income was from fruits, higher than that earned from vegetables by
9%, while cereal constituted 12% of the total income. The figure
for lime was equal to that for dandelion, at 8% each. Noticeably, only 1% of the
total income was generated from rice. |
Biểu đồ hình tròn đầu tiên minh
họa tỷ lệ nước tiêu thụ cho sáu sản phẩm khác nhau trong năm 2004. Biểu đồ thứ
hai cho biết tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập được tạo ra từ các sản phẩm
này trong cùng một năm. Nhìn chung, có thể thấy tỷ lệ
nước lớn nhất được sử dụng cho rau và trái cây. Ngoài ra, hai sản phẩm này
cũng là nguồn tạo ra tổng thu nhập chính trong năm 2004. Rau củ chiếm tỷ lệ lớn nhất
trong lượng nước tiêu thụ, ở mức 46%. Tiếp theo là trái cây, chiếm tỷ lệ thấp
hơn nhiều (28%). Tỷ lệ vôi bằng 2/3 so với ngũ cốc, lần lượt là 8% và 12%.
Trong khi đó, gạo và bồ công anh có tỷ lệ tương tự, mỗi loại 3%. 40% tổng thu nhập là từ trái
cây, cao hơn 9% so với rau quả, trong khi ngũ cốc chiếm 12% tổng thu nhập. Tỷ
lệ vôi tương đương với bồ công anh là 8%. Đáng chú ý, chỉ có 1% tổng thu nhập
được tạo ra từ lúa gạo. |
TEST 5
19:44 |
The
graph shows information about the number of people in Australia who use
Chinese, Arabic, Italian and Greek as their first language.
Phân
tích đề bài:
Dạng
bài: TIME CHART Có
sự thay đổi theo thời gian)
Cách
chia thân bài: Đối với dạng bài có sự thay đổi theo thời gian, có hai cách chia
sau:
Ø
Cách 1: Chia theo đối tượng
(các ngôn ngữ)
Ø
Cách 2: Chia theo thời
gian (các năm)
Bài
viết được viết theo cách 1.
Dàn
bài chi tiết
Mở
bài: Giới thiệu nội dung chính của biểu đồ
Ø
Đoạn tổng
quát (Overview)
Ø
Số liệu của Chinese và
Arabic tăng, còn số liệu của Greek và Italian giảm qua thời gian
Ø
Sau 25 năm, số liệu của
Chinese là cao nhất
Thân
bài 1
Ø
Mô tả số liệu của Greek
và Italian
Ø
Năm 1986, số liệu của
Greek là 225,000, cao hơn 75,000 so với số liệu của Italian
Ø
20 năm tiếp theo: cả hai
số liệu đều giảm bớt khoảng 35,000
Ø
Năm cuối: trong khi số liệu
của Greek tiếp tục giảm tới 175,000 thì số liệu của Italian giữ nguyên không đổi
Thân
bài 2
Ø
Mô tả số liệu của Chinese
và Arabic
Ø
Bắt đầu ở mức xấp xỉ
100,000, số liệu của Chinese tăng mạnh và chạm đỉnh ở 350,000 ở năm cuối cùng
Ø
Tương tự, số liệu của
Arabic tăng đáng kể thêm khoảng 100,000 từ số liệu ban đầu là 50,000 sau 25 năm
|
The line chart illustrates
how many people living in Australia used Chinese, Arabic, Italian and Greek
as their first language from 1986 to 2011. Overall,
while the figures for Chinese and Arabic saw an upward trend, the opposite
was true for Italian and Greek during the given period. In addition, the number
of Australians speaking Chinese as their first language was highest after 25
years. In
1986, Greek was used by 225,000 people in Australia as their first language,
which was higher than the figure for Italian by 75,000 people. In the next 20
years, these two figures witnessed a similar pattern in which they
both dropped gradually by roughly 35,000 people. After 5 years,
while the figure for Greek continued to fall to 175,000, that for Italian
remained unchanged. Starting
at approximately 100,000 in 1986, the number of Australian people speaking
Chinese as their first language increased steeply to reach its peak
of 350,000 in the final year. Likewise, a considerable growth of 100,000
people from the initial number of 50,000 was also experienced in
the figure for Arabic after 25 years.
|
Biểu đồ đường minh họa số lượng người sống
ở Úc sử dụng tiếng Trung, tiếng Ả Rập, tiếng Ý và tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ đầu
tiên của họ từ năm 1986 đến năm 2011. Nhìn chung, trong khi số liệu của tiếng
Trung và tiếng Ả Rập có xu hướng tăng lên thì điều ngược lại lại xảy ra với
tiếng Ý và tiếng Hy Lạp trong khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, số người
Úc nói tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ đầu tiên của họ cao nhất sau 25 năm. Năm 1986, tiếng Hy Lạp được 225.000 người
ở Úc sử dụng làm ngôn ngữ đầu tiên, cao hơn con số 75.000 người của tiếng Ý.
Trong 20 năm tiếp theo, hai con số này chứng kiến một mô hình tương tự
nhau, trong đó cả hai đều giảm dần khoảng 35.000 người. Sau 5 năm, trong khi
con số ở Hy Lạp tiếp tục giảm xuống còn 175.000 thì ở Ý vẫn không thay đổi. Bắt đầu từ khoảng 100.000 người vào năm
1986, số người Úc nói tiếng Trung Quốc như ngôn ngữ đầu tiên của họ đã tăng mạnh
và đạt mức cao nhất là 350.000 người vào năm cuối cùng. Tương tự như vậy, dân
số Ả Rập cũng có sự tăng trưởng đáng kể là 100.000 người so với con số ban đầu
là 50.000 sau 25 năm. |