PART 3. CUỐN 11-1

05:24 |

 

A. Such is our dependence on fossil fuels, and such is the volume of carbon dioxide already released into the atmosphere, that many experts agree that significant global warming is now inevitable. They believe that the best we can do is keep it at a reasonable level, and at present the only serious option for doing this is cutting back on our carbon emissions. But while a few countries are making major strides in this regard, the majority are having great difficulty even stemming the rate of increase, let alone reversing it. Consequently, an increasing number of scientists are beginning to explore the alternative of geo-engineering – a term which generally refers to the intentional large-scale manipulation of the environment. According to its proponents, geo-engineering is the equivalent of a backup generator: if Plan A – reducing our dependency on fossil fuels – fails, we require a Plan B, employing grand schemes to slow down or reverse the process of global warming.

·         inevitable (adj) /ɪnˈevɪtəbl/: không thể tránh khỏi

·         ENG: that you cannot avoid or prevent

·         let alone (idiom): huống chi là, chưa nói đến

·         ENG: used after a statement to emphasize that because the first thing is not true or possible, the next thing cannot be true or possible either

Sự phụ thuộc của chúng ta vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch cũng như lượng khí CO2 được thải vào môi trường lớn đến mức các chuyên gia phải đồng ý rằng sự nóng lên của trái đất là điều không thể tránh khỏi. Họ cũng tin rằng điều khả dĩ nhất mà chúng ta có thể làm là giữ tình trạng nóng lên ở một mức độ ổn định và có thể chấp nhận được, và lựa chọn duy nhất lúc này là cắt giảm lượng khí carbon. Tuy vậy, chỉ có một vài nước mới làm được điều này, còn đại đa số các nước khác vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc ngăn lượng khí này tăng lên chứ đừng nói đến giảm đi. Do vậy mà ngày càng nhiều các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu một kỹ thuật thay thế gọi là địa kỹ thuật – một thuật ngữ nói chung chỉ sự can thiệp của con người đến môi trường trên diện rộng. Theo như những người ủng hộ kỹ thuật này, địa kỹ thuật cũng được coi như một chiếc máy phát điện dự phòng: Nếu kế hoạch A-giảm sự phụ thuộc vào các nhiên liệu hóa thạch thất bại thì chúng ta chuyển qua kế hoạch B- thực hiện các kế hoạch vĩ mô để làm chậm lại hoặc đảo ngược quá trình nóng lên toàn cầu.

B. Geo-engineering has been shown to work, at least on a small localised scale. For decades, MayDay parades in Moscow have taken place under clear blue skies, aircraft having deposited dry ice, silver iodide and cement powder to disperse clouds. Many of the schemes now suggested look to do the opposite, and reduce the amount of sunlight reaching the planet. The most eye-catching idea of all is suggested by Professor Roger Angel of the University of Arizona. His scheme would employ up to 16 trillion minute spacecraft, each weighing about one gram, to form a transparent, sunlight-refracting sunshade in an orbit 1.5 million km above the Earth. This could, argues Angel, reduce the amount of light reaching the Earth by two per cent.

·         take place (phrasal verb): diễn ra

·         ENG: to happen, especially after previously being arranged or planned

·         disperse (verb) /dɪˈspɜːs/: xua tan

·         ENG: [intransitive, transitive] to move apart and go away in different directions; to make somebody/something do this

·         eye-catching (adj) /ˈaɪ kætʃɪŋ/: bắt mắt

·         ENG: (of a thing) immediately likely to attract attention because it is particularly interesting, bright or attractive

·         spacecraft (noun) /ˈspeɪskrɑːft/: phi thuyền

·         ENG: a vehicle that travels in space

·         transparent (adj) /trænsˈpærənt/: trong suốt

·         ENG: (of glass, plastic, etc.) allowing you to see through it

·         refract (verb) /rɪˈfrækt/: khúc xạ

·         ENG: (of water, air, glass, etc.) to make waves, such as those of light, sound or energy, change direction when they go through at an angle

Địa kỹ thuật đã có hiệu quả, ít nhất là ở quy mô nhỏ. Ví dụ như qua nhiều thập kỷ, những cuộc diễu binh ngày Quốc tế lao động tại Matxcova đã diễn ra dưới bầu trời trong xanh quang đãng, do khí cầu mang đá khô, bạc iot và bột xi măng đã xua tan mây mù. Có rất nhiều dự án đang được đề xuất thực hiện ngược lại nhằm giảm lượng ánh sáng chiếu đến trái đất. Ý tưởng đáng chú ý nhất thuộc về giáo sư Roger Angel đến từ đại học Arizona. Giải pháp của ông là sử dụng đến 16 nghìn tỷ phi thuyền không gian siêu nhỏ, mỗi cái nặng khoảng 1 gam để tạo ra một tấm kính trong suốt khúc xạ ánh sáng mặt trời ở quỹ đạo trên Trái Đất 1.5 triệu km. Theo giáo sư thì tấm kính này có thể làm giảm đến 2% lượng ánh sáng chiếu vào Trái Đất.

C. The majority of geo-engineering projects so far carried out – which include planting forests in deserts and depositing iron in the ocean to stimulate the growth of algae – have focused on achieving a general cooling of the Earth. But some look specifically at reversing the melting at the poles, particularly the Arctic. The reasoning is that if you replenish the ice sheets and frozen waters of the high latitudes, more light will be reflected back into space, so reducing the warming of the oceans and atmosphere.

·         stimulate (verb) /ˈstɪmjuleɪt/: kích thích

·         ENG: to make something develop or become more active; to encourage something

·         replenish (verb) /rɪˈplenɪʃ/: bổ sung

·         ENG: to make something full again by replacing what has been used

·         latitude (noun) /ˈlætɪtjuːd/: vĩ độ

·         ENG: [uncountable] the distance of a place north or south of the equator (= the line around the world dividing north and south), measured in degrees

·         reflect (verb) /rɪˈflekt/: phản xạ

·         ENG: to show the image of somebody/something on the surface of something such as a mirror, water or glass

Phần lớn các dự án về địa chất đã được thực hiện, bao gồm trồng rừng trên sa mạc hay đưa sắt xuống biển để kích thích sự phát triển của tảo biển – tất cả đều nhằm mục đích chung để làm giảm nhiệt độ Trái Đất. Bên cạnh đó là một số dự án đặc biệt quan tâm vào việc làm sao để có thể tránh việc băng tan ở các cực, đặc biệt là Bắc Cực. Lý do ở đây là nếu chúng ta càng bổ sung thêm nhiều phiến băng tại khu vực có vĩ độ cao, lượng ánh sáng bị phản xạ lại vào không gian càng nhiều, nhờ vậy sẽ giảm đi sự ấm lên của các đại dương và khí quyển.

D. The concept of releasing aerosol sprays into the stratosphere above the Arctic has been proposed by several scientists.  This would involve using sulphur or hydrogen sulphide aerosols so that sulphur dioxide would form clouds, which would, in turn, lead to a global dimming.  The idea is modelled on historic volcanic explosions, such as that of Mount Pinatubo in the Philippines in 1991, which led to a short-term cooling of global temperatures by 0.5 °C. Scientists have also scrutinised whether  it’s possible to preserve the ice sheets of Greenland with reinforced high-tension cables, preventing icebergs from moving into the sea. Meanwhile in the Russian Arctic, geo-engineering plans include the planting of millions of birch trees. Whereas the regions native evergreen pines shade the snow and absorb radiation,  birches would shed their leaves in winter, thus enabling radiation to be reflected by the snow.  Re-routing Russian rivers  to increase cold water flow to ice-forming areas could also be used to slow down warming, say some climate scientists.

·         dim (verb) /dɪm/: che mù

·         ENG: if a light dims or if you dim it, it becomes or you make it less bright

·         model something (verb) /ˈmɒdl/: dựa trên

·         ENG: to create a copy or description of an activity, a situation, etc. so that you can study it before dealing with the real thing

·         scrutinise (verb) /ˈskruːtənaɪz/: nghiên cứu kỹ lưỡng

·         ENG: to look at or examine somebody/something carefully

·         absorb (verb) /əbˈzɔːb/: hấp thụ

·         ENG: to take in a liquid, gas or other substance from the surface or space around

Một vài nhà khoa học đã đề xuất việc phun sương vào tầng bình lưu phía trên Bắc Cực. Bằng cách sử dụng sương lưu huỳnh hay H2S, theo đó SO2 sẽ tạo ra các đám mây và giúp che mù quanh Trái Đất. Ý tưởng này dựa trên những vụ phun trào núi lửa trong lịch sử, ví dụ như vụ phun trào núi lửa Pinatubo ở Philippines vào năm 1991 đã khiến cho nhiệt độ toàn cầu tạm giảm đi được 0,5°C. Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu kỹ lưỡng xem liệu có thể giữ các tảng băng ở Greenland khỏi bị trôi ra biển bằng hệ thống dây cáp chịu lực hay không. Trong khi đó, kế hoạch địa chất bao gồm việc việc trồng hàng triệu cây bạch dương ở vùng Bắc cực trong địa phận nước Nga. Ở những vùng rừng xanh tự nhiên, cây xanh sẽ che đi tuyết và hấp thụ nguồn bức xạ, trong khi cây bạch dương sẽ rụng lá vào mùa đông, cho phép tuyết phản xạ lại nguồn bức xạ ấy. Một số nhà khoa học về khí hậu cho hay, việc định tuyến lại các dòng sông ở Nga để tăng lượng nước lạnh chảy đến những vùng tạo băng cũng có thể được thực hiện nhằm làm chậm đi sự ấm lên toàn cầu.

E. But will such schemes ever be implemented? Generally speaking, those who are most cautious about geo-engineering are the scientists involved in the research. Angel says that his plan is ‘no substitute for developing renewable energy: the only permanent solution’. And Dr Phil Rasch of the US-based Pacific Northwest National Laboratory is equally guarded about the role of geo-engineering: ‘I think all of us agree that if we were to end geo-engineering on a given day, then the planet would return to its pre-engineered condition very rapidly, and probably within ten to twenty years. That’s certainly something to worry about.’

·         implement (verb) /ˈɪmplɪment/: tiến hành

·         ENG: to make something that has been officially decided start to happen or be used

·         cautious (adj) /ˈkɔːʃəs/: cẩn thận, thận trọng

·         ENG: being careful about what you say or do, especially to avoid danger or mistakes; not taking any risks

·         permanent (adj) /ˈpɜːmənənt/: bền vững

·         ENG: lasting for a long time or for all time in the future; existing all the time

Vậy liệu những kế hoạch này sẽ được tiến hành không? Nói chung thì những người thận trọng nhất về địa kỹ thuật lại chính là những nhà khoa học đã tham gia nghiên cứu. Angel cho rằng dự án của ông cũng ‘không thể thay thế được việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo vì sử dụng năng lượng tái tạo là giải pháp bền vững nhất’. Tiến sĩ Phil Rasch thuộc Viện Thí nghiệm Tây Bắc Thái Bình Dương đặt tại Mỹ thì lại bảo vệ quan điểm về tầm quan trọng của địa kỹ thuật: ‘Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng một ngày nào đấy khi chúng ra dừng việc áp dụng địa kỹ thuật, có lẽ chỉ trong khoảng 10-20 năm Trái Đất sẽ nhanh chóng trở về tình trạng cũ thôi. Đấy mới chính là điều đáng quan ngại.’

F. The US National Center for Atmospheric Research has already suggested that the proposal to inject sulphur into the atmosphere might affect rainfall patterns across the tropics and the Southern Ocean. ‘Geo-engineering plans to inject stratospheric aerosols or to seed clouds would act to cool the planet, and act to increase the extent of sea ice,’ says Rasch. ‘But all the models suggest some impact on the distribution of precipitation.’

·         precipitation (noun) /prɪˌsɪpɪˈteɪʃn/: lượng mưa

·         ENG: rain, snow, etc. that falls; the amount of this that falls

Trung tâm Quốc gia về Nghiên cứu Khí quyển – Mỹ cho rằng việc đưa lưu huỳnh vào bầu khí quyển có thể ảnh hưởng đến biểu đồ lượng mưa dọc theo các khu vực nhiệt đới và Nam Đại Dương. Rasch cho biết: ‘Các dự án địa kỹ thuật đưa sương vào tầng bình lưu hay tạo ra mây sẽ làm mát Trái Đất đồng thời cũng làm rộng thêm vùng biển băng. Nhưng tất cả mô hình đều có ảnh hưởng đến sự phân bố lượng mưa’.

G. A further risk with geo-engineering projects is that you can “overshoot’, says Dr Dan Hunt, from the University of Bristol’s School of Geophysical Sciences, who has studied the likely impacts of the sunshade and aerosol schemes on the climate. ‘You may bring global temperatures back to pre-industrial levels, but the risk is that the poles will still be warmer than they should be and the tropics will be cooler than before industrialisation.’  To avoid such a scenario,” Hunt says, “Angel’s project would have to operate at half strength; all of which reinforces his view that the best option is to avoid the need for geo-engineering altogether.”

·         reinforce (verb) /ˌriːɪnˈfɔːs/: củng cố

·         ENG: to make a structure or material stronger, especially by adding another material to it

Tiến sĩ Dan Hunt, từ Trường Khoa học Địa vật lý thuộc Đại học Bristol, người đã nghiên cứu các tác động có thể xảy ra của các phương án che nắng và phun sương đối với khí hậu đã nói rằng: một rủi ro nữa đối với các dự án kỹ thuật địa lý là bạn có thể đi quá xa. Bạn có thể đưa nhiệt độ toàn cầu trở lại mức tiền công nghiệp, nhưng rủi ro là các cực vẫn sẽ ấm hơn mức bình thường và các vùng nhiệt đới sẽ mát hơn so với trước khi công nghiệp hóa. Để tránh viễn cảnh này, dự án của Angel sẽ phải hoạt động bằng một nửa sức mạnh; tất cả điều đó củng cố quan điểm của ông ấy rằng lựa chọn tốt nhất là tránh hoàn toàn nhu cầu về kỹ thuật địa lý ”.

H. The main reason why geo-engineering is supported by many in the scientific community is that most researchers have little faith in the ability of politicians to agree and then bring in the necessary carbon cuts. Even leading conservation organisations see the value of investigating the potential of geo-engineering. According to Dr Martin Sommerkorn, climate change advisor for the World Wildlife Fund’s International Arctic Programme, ‘Human-induced climate change has brought humanity to a position where we shouldn’t exclude thinking thoroughly about this topic and its possibilities.’

·         have little faith in something: đặt ít niềm tin vào … .

Lý do chính tại sao địa kỹ thuật được ủng hộ bởi rất nhiều người trong giới khoa học là bởi vì hầu như những nhà khoa học không đặt niềm tin vào việc các chính trị gia sẽ đồng ý và sau đó thực hiện việc cắt giảm lượng carbon cần thiết. Ngay cả những tổ chức bảo tồn hàng đầu cũng nhận ra giá trị của việc nghiên cứu tiềm năng của địa kỹ thuật. Theo Tiến sỹ Martin Sommerkorn, cố vấn về thay đổi khí hậu cho Chương trình Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên Bắc Cực: ‘Sự biến đổi khí hậu mà loài người gây ra đã khiến chúng ta không thể không cân nhắc kỹ lưỡng về địa kỹ thuật cũng như những khả năng nó có thể tạo ra’.

 

Xem thêm…

PART 3. CUỐN 17-2

05:17 |

 Insight or evolution?

Sự thấu hiểu hay sự tiến hóa?

Two scientists consider the origins of discoveries and other innovative behavior

Hai nhà khoa học xem xét nguồn gốc của các khám phá và hành vi đổi mới khác.

Scientific discovery is popularly believed to result from the sheer genius of such intellectual stars as naturalist Charles Darwin and theoretical physicist Albert Einstein. Our view of such unique contributions to science often disregards the person’s prior experience and the efforts of their lesser-known predecessors. Conventional wisdom also places great weight on insight in promoting breakthrough scientific achievements, as if ideas spontaneously pop into someone’s head – fully formed and functional

Người ta thường cho rằng khám phá khoa học đến từ sự thiên tài tuyệt đối của những ngôi sao trí tuệ như nhà tự nhiên học Charles Darwin và nhà vật lý lý thuyết Albert Einstein. Quan điểm của chúng ta về những đóng góp độc đáo như vậy cho khoa học thường không xét đến kinh nghiệm trước đó của người đó và nỗ lực của những người tiền nhiệm ít được biết đến hơn của họ. Sự hiểu biết truyền thống thường coi trọng sự thấu hiểu trong việc phát triển những thành tựu khoa học mang tính đột phá, như thể các ý tưởng xuất hiện một cách tự nhiên trong đầu ai đó – được hình thành và hoạt động đầy đủ.

There may be some limited truth to this view. However, we believe that it largely misrepresents the real nature of scientific discovery, as well as that of creativity and innovation in many other realms of human endeavor.

Quan điểm này có phần đúng. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nó phần lớn thể hiện sai bản chất thực sự của khám phá khoa học, cũng như của tính sáng tạo và đổi mới trong nhiều lĩnh vực khác của nỗ lực con người.

Setting aside such greats as Darwin and Einstein whose monumental contributions are duly celebrated – we suggest that innovation is more a process of trial and error, where two steps forward may sometimes come with one step back, as well as one or more steps to the right or left. This evolutionary view of human innovation undermines the notion of creative genius and recognizes the cumulative nature of scientific progress.

Bỏ qua những người vĩ đại như Darwin và Einstein – những người có những đóng góp to lớn được tôn vinh xứng đáng – Chúng tôi đề xuất rằng đổi mới là một quá trình thử nghiệm và sửa lỗi, trong đó hai bước tiến đôi khi có thể đi kèm với một bước lùi, một hoặc nhiều bước sang phải hoặc trái. Quan điểm cấp tiến này về sự đổi mới của con người làm suy yếu quan niệm về thiên tài sáng tạo và công nhận bản chất tích lũy của tiến bộ khoa học.

Consider one unheralded scientist: John Nicholson, a mathematical physicist working in the 1910s who postulated the existence of proto-elements in outer space. By combining different numbers of weights of these proto-elements’ atoms, Nicholson could recover the weights of all the elements in the then-known periodic table. These successes are all the more noteworthy given the fact that Nicholson was wrong about the presence of proto-elements: they do not actually exist. Yet, amid his often fanciful theories and wild speculations, Nicholson also proposed a novel theory about the structure of atoms. Niels Bohr, the Nobel prize-winning father of modern atomic theory, jumped off from this interesting idea to conceive his now-famous model of the atom.

Xem xét một nhà khoa học đầy bất ngờ: John Nicholson, một nhà vật lý toán học làm việc vào những năm 1910, người đã đưa giả thuyết về sự tồn tại của các nguyên tố proto trong vũ trụ. Bằng cách kết hợp các trọng lượng khác nhau của các nguyên tử nguyên tố proto này, Nicholson đã có thể khôi phục trọng lượng của tất cả các nguyên tố trong bảng tuần hoàn được biết đến sau đó. Những thành công này càng đáng chú ý hơn vì thực tế là Nicholson đã sai về sự hiện diện của các nguyên tố proto: chúng không thực sự tồn tại. Tuy nhiên, giữa những lý thuyết huyền ảo và những suy đoán hoang đường của mình, Nicholson cũng đề xuất một lý thuyết mới lạ về cấu trúc của nguyên tử. Niels Bohr, cha đẻ của lý thuyết nguyên tử hiện đại, người từng đoạt giải Nobel, đã bắt đầu từ ý tưởng thú vị này để hình thành mô hình nguyên tử nổi tiếng hiện nay của ông.

What are we to make of this story? One might simply conclude that science is a collective and cumulative enterprise. That may be true, but there may be a deeper insight to be gleaned. We propose that science is constantly evolving, much as species of animals do. In biological systems, organisms may display new characteristics that result from random genetic mutations. In the same way, random, arbitrary or accidental mutations of ideas may help pave the way for advances in science. If mutations prove beneficial, then the animal or the scientific theory will continue to thrive and perhaps reproduce.

Chúng ta phải làm gì với câu chuyện này? Ai đó có thể kết luận một cách đơn giản rằng khoa học giống như một doanh nghiệp thu thập và tích lũy. Điều đó có thể đúng, nhưng có thể cần lượm lặt thêm một cái nhìn sâu sắc hơn. Chúng ta đề xuất rằng khoa học thì tiến hóa liên tục, giống như các loài động vật. Trong hệ thống sinh học, các sinh vật có thể thể hiện các đặc điểm mới do đột biến gen ngẫu nhiên. Theo cách tương tự, sự đột biến ngẫu nhiên, tùy ý hoặc tình cờ của các ý tưởng có thể giúp mở đường cho những tiến bộ trong khoa học. Nếu các đột biến có lợi, thì động vật hoặc lý thuyết khoa học sẽ tiếp tục phát triển mạnh và có lẽ sẽ sản sinh thêm.

Support for this evolutionary view of behavioral innovation comes from many domains. Consider one example of an influential innovation in US horseracing. The so-called ‘acey-deucy’ stirrup placement, in which the rider’s foot in his left stirrup is placed as much as 25 centimeters lower than the right, is believed to confer important speed advantages when turning on oval tracks. It was developed by a relatively unknown jockey named Jackie Westrope. Had Westrope conducted methodical investigations or examined extensive film records in a shrewd plan to outrun his rivals? Had he foreseen the speed advantage that would be conferred by riding acey-deucy? No. He suffered a leg injury, which left him unable to fully bend his left knee. His modification just happened to coincide with enhanced left-hand turning performance. This led to the rapid and widespread adoption of riding acey-deucy by many riders, a racing style which continues in today’s thoroughbred racing.

Sự ủng hộ cho quan điểm tiến hóa về đổi mới hành vi đến từ nhiều lĩnh vực. Hãy xem xét một ví dụ về một sự đổi mới có ảnh hưởng trong nghề cưỡi ngựa của Hoa Kỳ. Vị trí được gọi là ‘acey-deucy’, bàn chân của người cưỡi ngựa ở bên trái được đặt thấp hơn 25cm so với bên phải, được cho là mang lại lợi thế tốc độ quan trọng khi rẽ trên đường đua hình bầu dục. Vị trí này được phát triển bởi một người đua ngựa tương đối vô danh tên là Jackie Westrope. Có phải Westrope đã tiến hành các cuộc điều tra có phương pháp hoặc xem lại rất nhiều bộ phim để xây dựng một kế hoạch khôn ngoan để vượt qua các đối thủ của mình không? Anh ta có nhìn thấy trước lợi thế về tốc độ khi cưỡi ngựa theo cách acey-deucy không? Không. Anh ấy bị chấn thương ở chân, khiến anh ấy không thể uốn cong hoàn toàn đầu gối trái của mình. Điều này chỉ xảy ra trùng hợp với việc rẽ trái hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến việc nhiều tay đua áp dụng phương pháp acey-deucy một cách nhanh chóng và rộng rãi, một phong cách đua mà tiếp tục được áp dụng trong các cuộc đua ngựa thuần chủng ngày nay.

Plenty of other stories show that fresh advances can arise from error, misadventure, and also pure serendipity – a happy accident. For example, in the early 1970s, two employees of the company 3M each had a problem: Spencer Silver had a product – a glue which was only slightly sticky- and no use for it, while his colleague Art Fry was trying to figure out how to affix temporary bookmarks in his hymn book without damaging its pages. The solution to both these problems was the invention of the brilliantly simple yet phenomenally successful Post-It note. Such examples give lie to the claim that ingenious, designing minds are responsible for human creativity and invention. Far more banal and mechanical forces may be at work; forces that are fundamentally connected to the laws of science.

Nhiều câu chuyện khác cho thấy rằng nhiều tiến bộ mới mẻ có thể phát sinh từ những lỗi sai, tai nạn bất ngờ và những sự cầu may thuần túy – một sự cố có lợi. Ví dụ, đầu những năm 1970, hai nhân viên của công ty 3M đều gặp phải vấn đề của riêng mình: Spencer Silver có một sản phẩm keo dán mà nó dán không dính chặt lắm và không hữu dụng gì cả; trong khi đồng nghiệp của anh ta Art Fry thì cố gắng để tìm ra cách cố định những đánh dấu trang tạm thời trong cuốn Thánh ca của mình mà không làm hư các trang sách. Giải pháp cho cả hai vấn đề này là giấy ghi chú Post-It  một phát minh vô cùng đơn giản mà lại mang đến thành công lạ thường. Những ví dụ như vậy đã bác bỏ luận điệu rằng những đầu óc khéo léo, tính toán thì tạo ra những sáng tạo và phát minh của con người.

The notions of insight, creativity and genius are often invoked, but they remain vague and of doubtful scientific utility, especially when one considers the diverse and enduring contributions of individuals such as Plato, Leonardo da Vinci, Shakespeare, Beethoven, Galileo, Newton, Kepler, Curie, Pasteur and Edison. These notions merely label rather than explain the evolution of human innovations. We need another approach, and there is a promising candidate.

Khái niệm về sự thấu hiểu, sáng tạo và thiên tài thường được viện dẫn nhưng chúng vẫn còn mơ hồ và tính thực tiễn về khoa học vẫn còn không chắc chắn, đặc biệt khi chúng ta xem xét những đóng góp đa dạng và lâu dài của những người như Plato, Leonardo da Vinci, Shakespeare, Beethoven, Galileo, Newton, Kepler, Curie, Pasteur và  Edison. Những khái niệm này chỉ đơn thuần mang tính dán nhãn hơn là giải thích sự tiến hóa của những đổi mới của con người. Chúng ta cần phương pháp tiếp cận khác, và có một ứng viên đầy hứa hẹn

The Law of Effect was advanced by psychologist Edward Thorndike in 1898, some 40 years after Charles Darwin published his groundbreaking work on biological evolution, On the Origin of Species. This simple law holds that organisms tend to repeat successful behaviors and to refrain from performing unsuccessful ones. Just like Darwin’s Law of Natural Selection, the Law of Effect involves an entirely mechanical process of variation and selection, without any end objective in sight.

Luật Hiệu Quả được đưa ra bởi nhà tâm lý học Edward Thorndike vào năm 1898, khoảng 40 năm sau khi Charles Darwin xuất bản tác phẩm đột phá của mình về sự tiến hóa sinh học mang tên “Nguồn gốc của muôn loài”. Định luật đơn giản này cho rằng các loài có khuynh hướng lặp lại hành vi thành công và kiềm chế thực hiện những hành vi không thành công. Cũng giống như Luật Tiến Hóa Tự Nhiên của Darwin, Luật Hiệu Quả liên quan đến quy trình hoàn toàn máy móc của biến đổi và chọn lọc,  mà nó không có bất kì mục tiêu cuối cùng nào trong tầm mắt.

Of course, the origin of human innovation demands much further study. In particular, the provenance of the raw material on which the Law of Effect operates is not as clearly known as that of the genetic mutations on which the Law of Natural Selection operates. The generation of novel ideas and behaviors may not be entirely random, but constrained by prior successes and failures of the current individual (such as Bohr) or of predecessors (such as Nicholson).

Dĩ nhiên, nguồn gốc sự cải tiến của con người cần nghiên cứu thêm. Đặc biệt, nguồn gốc của nguyên liệu thô cho Luật Hiệu Quả hoạt động thì không rõ ràng như là của đột biến gen mà Luật Chọn Lọc Tự Nhiên hoạt động. Những nhóm ý tưởng và hành vi mới lạ có thể không hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng bị hạn chế bởi những thành công hay thất bại trước đó của những cá nhân hiện tại (như là Bohr) hay của người tiền nhiệm (như là Nicholson).

The time seems right for abandoning the naive notions of intelligent design and genius, and for scientifically exploring the true origins of creative behavior.

Dường như đã đến lúc chúng ta từ bỏ những quan điểm ngây ngô về thiết kế thông minh và thiên tài, và dành nhiều hơn cho việc khám phá khoa học về những nguồn gốc thực sự của hành vi sáng tạo.

 

Xem thêm…

PART 3. CUỐN 17-1

05:26 |

 

To catch a king

Anna Keay reviews Charles Spencer’s book about the hunt for King Charles II during the English Civil War of the seventeenth century

Charles Spencer’s latest book, To Catch a King, tells us the story of the hunt for King Charles II in the six weeks after his resounding defeat at the Battle of Worcester in September 1651. And what a story it is. After his father was executed by the Parliamentarians in 1649, the young Charles II sacrificed one of the very principles his father had died for and did a deal with Scots, thereby accepting Presbyterianism* as the national religion in return for being crowned King of Scots. His arrival in Edinburgh prompted the English Parliamentary army to invade Scotland in a pre-emptive strike. This was followed by a Scottish invasion of England. The two sides finally faced one another at Worcester in the west of England in 1651. After being comprehensively defeated on the meadows outside the city by the Parliamentarian army, the 21-year-old king found himself the subject of a national manhunt, with a huge sum offered for his capture, through a series of heart-poundingly close escapes, to evade the Parliamentarians before seeking refuge in France. For the next nine years, the penniless and defeated Charles wandered around Europe with only a small group of loyal supporters.

Cuốn sách mới nhất của Charles Spencer, "To Catch a King" (Bắt một vị vua), kể về cuộc truy lùng Vua Charles II trong sáu tuần sau thất bại vang dội của ông tại Trận Worcester vào tháng 9 năm 1651. Và đó quả là một câu chuyện ly kỳ. Sau khi cha ông bị quân Nghị viện hành quyết năm 1649, Charles II trẻ tuổi đã hy sinh một trong những nguyên tắc mà cha ông đã đấu tranh đến cùng và thỏa thuận với người Scotland, chấp nhận Giáo hội Trưởng lão* làm quốc giáo để đổi lấy việc được phong làm Vua của Scotland. Sự xuất hiện của ông ở Edinburgh đã thúc đẩy quân đội Nghị viện Anh xâm lược Scotland trong một cuộc tấn công phủ đầu. Sau đó là cuộc xâm lược nước Anh của người Scotland. Hai bên cuối cùng đã đối đầu nhau tại Worcester ở phía tây nước Anh vào năm 1651. Sau khi bị quân đội Nghị viện đánh bại hoàn toàn trên những cánh đồng bên ngoài thành phố, vị vua 21 tuổi trở thành đối tượng bị truy nã trên toàn quốc, với một khoản tiền thưởng khổng lồ được treo thưởng cho việc bắt giữ ông. Sau một loạt những lần thoát hiểm nghẹt thở, ông đã trốn tránh quân Nghị viện trước khi tìm nơi nương náu ở Pháp. Trong chín năm tiếp theo, Charles, giờ đây không còn tiền và bại trận, lang thang khắp châu Âu chỉ với một nhóm nhỏ những người ủng hộ trung thành.

 

Years later, after his restoration as king, the 50-year-old Charles II requested a meeting with the writer and diarist Samuel Pepys. His intention when asking Pepys to commit his story to paper was to ensure that this most extraordinary episode was never forgotten. Over two three-hour sittings, the king related to him in great detail his personal recollections of the six weeks he had spent as a fugitive. As the king and secretary settled down (a scene that is surely a gift for a future scriptwriter), Charles commenced his story: ‘After the battle was so absolutely lost as to be beyond hope of recovery, I began to think of the best way of saving myself.’

Nhiều năm sau, sau khi được phục vị, Charles II, khi đó 50 tuổi, đã yêu cầu được gặp nhà văn và người viết nhật ký Samuel Pepys. Mục đích của ông khi yêu cầu Pepys ghi lại câu chuyện của mình là để đảm bảo rằng sự kiện phi thường này sẽ không bao giờ bị lãng quên. Trong hai buổi gặp mặt kéo dài ba giờ mỗi buổi, nhà vua đã kể lại cho ông nghe rất chi tiết những hồi ức cá nhân về sáu tuần ông phải chạy trốn. Khi nhà vua và thư ký đã ổn định chỗ ngồi (một cảnh chắc chắn là món quà dành cho nhà biên kịch tương lai), Charles bắt đầu câu chuyện của mình: "Sau khi trận chiến hoàn toàn thất bại đến mức không còn hy vọng phục hồi, tôi bắt đầu nghĩ đến cách tốt nhất để cứu lấy bản thân mình."

One of the joys of Spencer’s book, a result not least of its use of Charles II’s own narrative as well as those of his supporters, is just how close the reader gets to the action. The day-by-day retelling of the fugitives’ doings provides delicious details: the cutting of the king’s long hair with agricultural shears, the use of walnut leaves to dye his pale skin, and the day Charles spent lying on a branch of the great oak tree in Boscobel Wood as the Parliamentary soldiers scoured the forest floor below. Spencer draws out both the humour – such as the preposterous refusal of Charles’s friend Henry Wilmot to adopt disguise on the grounds that it was beneath his dignity – and the emotional tension when the secret of the king’s presence was cautiously revealed to his supporters.

Một trong những điều thú vị của cuốn sách của Spencer, có được nhờ việc sử dụng chính lời kể của Charles II cũng như của những người ủng hộ ông, là người đọc được tiếp cận rất gần với diễn biến câu chuyện. Việc kể lại chi tiết từng ngày về những việc làm của những người chạy trốn mang đến những trải nghiệm thú vị: việc cắt mái tóc dài của nhà vua bằng kéo nông nghiệp, việc dùng lá óc chó để nhuộm làn da nhợt nhạt của ông, và ngày Charles nằm trên cành cây sồi lớn trong rừng Boscobel trong khi binh lính Quốc hội lùng sục khắp khu rừng bên dưới. Spencer đã khắc họa cả sự hài hước – chẳng hạn như sự từ chối vô lý của người bạn Charles, Henry Wilmot, khi ông không muốn cải trang vì cho rằng điều đó làm mất phẩm giá của mình – và cả sự căng thẳng về mặt cảm xúc khi bí mật về sự hiện diện của nhà vua được tiết lộ một cách thận trọng cho những người ủng hộ ông.

Charles’s adventures after losing the Battle of Worcester hide the uncomfortable truth that whilst almost everyone in England had been appalled by the execution of his father, they had not welcomed the arrival of his son with the Scots army, but had instead firmly bolted their doors. This was partly because he rode at the head of what looked like a foreign invasion force and partly because, after almost a decade of civil war, people were desperate to avoid it beginning again. This makes it all the more interesting that Charles II himself loved the story so much ever after. As well as retelling it to anyone who would listen, causing eye-rolling among courtiers, he set in train a series of initiatives to memorialise it. There was to be a new order of chivalry, the Knights of the Royal Oak. A series of enormous oil paintings depicting the episode were produced, including a two-metre-wide canvas of Boscobel Wood and a set of six similarly enormous paintings of the king on the run. In 1660, Charles II commissioned the artist John Michael Wright to paint a flying squadron of cherubs* carrying an oak tree to the heavens on the ceiling of his bedchamber. It is hard to imagine many other kings marking the lowest point in their life so enthusiastically, or indeed pulling off such an escape in the first place.

Những cuộc phiêu lưu của Charles sau thất bại trong trận Worcester che giấu một sự thật khó chịu rằng trong khi hầu hết mọi người ở Anh đều kinh hoàng trước việc cha ông bị hành quyết, họ lại không chào đón sự xuất hiện của con trai ông cùng quân đội Scotland, mà thay vào đó đã đóng chặt cửa nhà mình. Điều này một phần là vì ông dẫn đầu một lực lượng trông giống như quân xâm lược nước ngoài, và một phần là vì, sau gần một thập kỷ nội chiến, người dân tuyệt vọng muốn tránh việc chiến tranh tái diễn. Điều này càng làm cho câu chuyện về việc Charles II yêu thích nó đến vậy trở nên thú vị hơn. Bên cạnh việc kể lại câu chuyện cho bất cứ ai chịu lắng nghe, khiến các cận thần phải lắc đầu ngao ngán, ông còn khởi xướng một loạt các sáng kiến ​​để tưởng nhớ sự kiện này. Một hiệp hội hiệp sĩ mới được thành lập, Hiệp sĩ Cây Sồi Hoàng gia. Một loạt các bức tranh sơn dầu khổng lồ mô tả sự kiện này đã được thực hiện, bao gồm một bức tranh khổ rộng hai mét về Rừng Boscobel và một bộ sáu bức tranh khổng lồ tương tự về nhà vua đang chạy trốn. Năm 1660, Charles II đã ủy thác cho họa sĩ John Michael Wright vẽ một đội thiên thần nhỏ đang bay mang một cây sồi lên trời trên trần phòng ngủ của ông. Thật khó để tưởng tượng có vị vua nào khác lại đánh dấu thời điểm tồi tệ nhất trong cuộc đời mình một cách nhiệt tình như vậy, hoặc thậm chí có thể thực hiện được một cuộc trốn thoát ngoạn mục đến thế.

 

Charles Spencer is the perfect person to pass the story on to a new generation. His pacey, readable prose steers deftly clear of modern idioms and elegantly brings to life the details of the great tale. He has even-handed sympathy for both the fugitive king and the fierce republican regime that hunted him, and he succeeds in his desire to explore far more of the background of the story than previous books on the subject have done. Indeed, the opening third of the book is about how Charles II found himself at Worcester in the first place, which for some will be reason alone to read To Catch a King.

Charles Spencer là người hoàn hảo để truyền lại câu chuyện này cho thế hệ mới. Văn phong mạch lạc, dễ đọc của ông khéo léo tránh xa những lối diễn đạt hiện đại và làm sống động một cách tao nhã những chi tiết của câu chuyện vĩ đại. Ông có sự cảm thông công bằng đối với cả vị vua đang chạy trốn và chế độ cộng hòa tàn bạo đã truy lùng ông, và ông đã thành công trong mong muốn khám phá nhiều hơn về bối cảnh câu chuyện so với các cuốn sách trước đây về chủ đề này. Thật vậy, một phần ba đầu tiên của cuốn sách nói về việc Charles II đã đến Worcester như thế nào, điều này đối với một số người sẽ là lý do duy nhất để đọc cuốn "To Catch a King".

 

The tantalizing question left, in the end, is that of what it all meant. Would Charles II have been a different king had these six weeks never happened? The days and nights spent in hiding must have affected him in some way. Did the need to assume disguises, to survive on wit and charm alone, to use trickery and subterfuge to escape from tight corners help form him? This is the one area where the book doesn’t quite hit the mark. Instead its depiction of Charles II in his final years as an ineffective, pleasure-loving monarch doesn’t do justice to the man (neither is it accurate), or to the complexity of his character. But this one niggle aside, To Catch a King is an excellent read, and those who come to it knowing little of the famous tale will find they have a treat in store.

Câu hỏi hóc búa còn lại, cuối cùng, là tất cả những điều đó có ý nghĩa gì. Liệu Charles II có phải là một vị vua khác nếu sáu tuần đó không bao giờ xảy ra? Những ngày đêm lẩn trốn chắc chắn đã ảnh hưởng đến ông theo một cách nào đó. Liệu việc phải cải trang, phải sống sót chỉ bằng trí thông minh và sự quyến rũ, phải sử dụng mưu mẹo và thủ đoạn để thoát khỏi những tình huống khó khăn có giúp hình thành nên con người ông? Đây là điểm duy nhất mà cuốn sách chưa thực sự đạt được mục tiêu. Thay vào đó, miêu tả Charles II trong những năm cuối đời như một vị vua bất tài, ham mê hưởng lạc không phản ánh đúng con người ông (và cũng không chính xác), hay sự phức tạp trong tính cách của ông. Nhưng bỏ qua điểm nhỏ này, "To Catch a King" là một cuốn sách tuyệt vời, và những ai tiếp cận nó mà không biết nhiều về câu chuyện nổi tiếng này sẽ thấy mình được thưởng thức một tác phẩm đáng giá.

 

Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau.
Confession | Linkcenter | khoa học tâm linh | Kho tài liệu hay |