Home » DỊCH CAM
PART 3. CUỐN 11-1
05:24 |
A.
Such is our dependence on fossil fuels, and such is the volume of carbon
dioxide already released into the atmosphere, that many experts agree that
significant global warming is now inevitable. They believe
that the best we can do is keep it at a reasonable level, and at present the
only serious option for doing this is cutting back on our carbon emissions. But
while a few countries are making major strides in this regard, the majority are
having great difficulty even stemming the rate of increase, let alone reversing
it. Consequently, an increasing number of scientists are beginning to explore
the alternative of geo-engineering – a term which generally refers to the
intentional large-scale manipulation of the environment. According to its
proponents, geo-engineering is the equivalent of a backup generator: if
Plan A – reducing our dependency on fossil fuels – fails, we require a Plan B,
employing grand schemes to slow down or reverse the process of global warming.
·
inevitable (adj)
/ɪnˈevɪtəbl/: không thể tránh khỏi
·
ENG: that you cannot avoid
or prevent
·
let alone (idiom):
huống chi là, chưa nói đến
·
ENG: used after a statement
to emphasize that because the first thing is not true or possible, the next
thing cannot be true or possible either
Sự
phụ thuộc của chúng ta vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch cũng như lượng khí
CO2 được thải vào môi trường lớn đến mức các chuyên gia phải đồng ý rằng sự
nóng lên của trái đất là điều không thể tránh khỏi. Họ cũng tin rằng điều khả
dĩ nhất mà chúng ta có thể làm là giữ tình trạng nóng lên ở một mức
độ ổn định và có thể chấp nhận được, và lựa chọn duy nhất lúc này là cắt
giảm lượng khí carbon. Tuy vậy, chỉ có một vài nước mới làm được điều này, còn
đại đa số các nước khác vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc
ngăn lượng khí này tăng lên chứ đừng nói
đến giảm đi. Do vậy mà ngày càng nhiều các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu
một kỹ thuật thay thế gọi là địa kỹ thuật – một thuật ngữ nói chung chỉ sự can
thiệp của con người đến môi trường trên diện rộng. Theo như những người ủng
hộ kỹ thuật này, địa kỹ thuật cũng được coi như một chiếc máy phát điện dự
phòng: Nếu kế hoạch A-giảm sự phụ thuộc vào các nhiên liệu hóa thạch thất bại
thì chúng ta chuyển qua kế hoạch B- thực hiện các kế hoạch vĩ mô để làm chậm
lại hoặc đảo ngược quá trình nóng lên toàn cầu.
B.
Geo-engineering has been shown to work, at least on a small localised scale. For
decades, MayDay parades in Moscow have taken place under
clear blue skies, aircraft having deposited dry ice, silver iodide and cement
powder to disperse clouds. Many of the schemes now suggested
look to do the opposite, and reduce the amount of sunlight reaching the planet.
The most eye-catching idea of all is suggested by Professor
Roger Angel of the University of Arizona. His scheme would employ up to 16
trillion minute spacecraft, each weighing about one gram, to
form a transparent, sunlight-refracting sunshade in
an orbit 1.5 million km above the Earth. This could, argues Angel, reduce the
amount of light reaching the Earth by two per cent.
·
take place (phrasal
verb): diễn ra
·
ENG: to happen, especially
after previously being arranged or planned
·
disperse (verb)
/dɪˈspɜːs/: xua tan
·
ENG: [intransitive,
transitive] to move apart and go away in different directions; to make
somebody/something do this
·
eye-catching (adj)
/ˈaɪ kætʃɪŋ/: bắt mắt
·
ENG: (of a thing)
immediately likely to attract attention because it is particularly interesting,
bright or attractive
·
spacecraft (noun)
/ˈspeɪskrɑːft/: phi thuyền
·
ENG: a vehicle that travels
in space
·
transparent (adj)
/trænsˈpærənt/: trong suốt
·
ENG: (of glass, plastic,
etc.) allowing you to see through it
·
refract (verb)
/rɪˈfrækt/: khúc xạ
·
ENG: (of water, air, glass,
etc.) to make waves, such as those of light, sound or energy, change direction
when they go through at an angle
Địa
kỹ thuật đã có hiệu quả, ít nhất là ở quy mô nhỏ. Ví dụ như qua nhiều thập kỷ,
những cuộc diễu binh ngày Quốc tế lao động tại Matxcova đã diễn ra dưới bầu
trời trong xanh quang đãng, do khí cầu mang đá khô, bạc iot và bột xi măng đã
xua tan mây mù. Có rất nhiều dự án đang được đề xuất thực hiện ngược lại nhằm
giảm lượng ánh sáng chiếu đến trái đất. Ý tưởng đáng chú ý nhất thuộc về giáo
sư Roger Angel đến từ đại học Arizona. Giải pháp của ông là sử dụng đến 16
nghìn tỷ phi thuyền không gian siêu nhỏ, mỗi cái nặng khoảng 1 gam để tạo ra
một tấm kính trong suốt khúc xạ ánh sáng mặt trời ở quỹ đạo trên Trái Đất 1.5
triệu km. Theo giáo sư thì tấm kính này có thể làm giảm đến 2% lượng ánh sáng
chiếu vào Trái Đất.
C.
The majority of geo-engineering projects so far carried out – which include
planting forests in deserts and depositing iron in the ocean to stimulate the
growth of algae – have focused on achieving a general cooling of the
Earth. But some look specifically at reversing the melting at the poles,
particularly the Arctic. The reasoning is that if you replenish the
ice sheets and frozen waters of the high latitudes, more light
will be reflected back into space, so reducing the warming of
the oceans and atmosphere.
·
stimulate (verb)
/ˈstɪmjuleɪt/: kích thích
·
ENG: to make something
develop or become more active; to encourage something
·
replenish (verb)
/rɪˈplenɪʃ/: bổ sung
·
ENG: to make something full
again by replacing what has been used
·
latitude (noun)
/ˈlætɪtjuːd/: vĩ độ
·
ENG: [uncountable] the
distance of a place north or south of the equator (= the line around
the world dividing north and south), measured in degrees
·
reflect (verb)
/rɪˈflekt/: phản xạ
·
ENG: to show the image of
somebody/something on the surface of something such as a mirror, water or glass
Phần
lớn các dự án về địa chất đã được thực hiện, bao gồm trồng rừng trên sa mạc hay
đưa sắt xuống biển để kích thích sự phát triển của tảo biển – tất cả đều nhằm
mục đích chung để làm giảm nhiệt độ Trái Đất. Bên cạnh đó là một số dự án đặc
biệt quan tâm vào việc làm sao để có thể tránh việc băng tan ở các cực, đặc
biệt là Bắc Cực. Lý do ở đây là nếu chúng ta càng bổ sung thêm nhiều
phiến băng tại khu vực có vĩ độ cao, lượng ánh sáng bị phản xạ lại vào không gian
càng nhiều, nhờ vậy sẽ giảm đi sự ấm lên của các đại dương và khí quyển.
D.
The concept of releasing aerosol sprays into the stratosphere above the
Arctic has been proposed by several scientists. This would involve
using sulphur or hydrogen sulphide aerosols so that sulphur dioxide would
form clouds, which would, in turn, lead to a global dimming. The
idea is modelled on historic volcanic explosions, such as
that of Mount Pinatubo in the Philippines in 1991, which led to a
short-term cooling of global temperatures by 0.5 °C. Scientists have also scrutinised whether
it’s possible to preserve the ice sheets of Greenland with reinforced
high-tension cables, preventing icebergs from moving into the sea.
Meanwhile in the Russian Arctic, geo-engineering plans include the planting of
millions of birch trees. Whereas the regions native evergreen pines shade the
snow and absorb radiation, birches would shed their leaves
in winter, thus enabling radiation to be reflected by the snow. Re-routing
Russian rivers to increase cold water flow to ice-forming areas
could also be used to slow down warming, say some climate scientists.
·
dim (verb)
/dɪm/: che mù
·
ENG: if a light dims or if
you dim it, it becomes or you make it less bright
·
model something (verb)
/ˈmɒdl/: dựa trên
·
ENG: to create a copy or
description of an activity, a situation, etc. so that you can study it before
dealing with the real thing
·
scrutinise (verb)
/ˈskruːtənaɪz/: nghiên cứu kỹ lưỡng
·
ENG: to look at or examine
somebody/something carefully
·
absorb (verb)
/əbˈzɔːb/: hấp thụ
·
ENG: to take in a liquid,
gas or other substance from the surface or space around
Một
vài nhà khoa học đã đề xuất việc phun sương vào tầng bình lưu phía trên Bắc
Cực. Bằng cách sử dụng sương lưu huỳnh hay H2S, theo đó SO2 sẽ tạo ra các đám
mây và giúp che mù quanh Trái Đất. Ý tưởng này dựa trên những vụ phun trào núi
lửa trong lịch sử, ví dụ như vụ phun trào núi lửa Pinatubo ở Philippines vào
năm 1991 đã khiến cho nhiệt độ toàn cầu tạm giảm đi được 0,5°C. Các nhà khoa
học cũng đã nghiên cứu kỹ lưỡng xem liệu có thể giữ các tảng băng ở Greenland
khỏi bị trôi ra biển bằng hệ thống dây cáp chịu lực hay không. Trong khi đó, kế
hoạch địa chất bao gồm việc việc trồng hàng triệu cây bạch dương ở vùng Bắc cực
trong địa phận nước Nga. Ở những vùng rừng xanh tự nhiên, cây xanh sẽ che đi
tuyết và hấp thụ nguồn bức xạ, trong khi cây bạch dương sẽ rụng lá vào mùa
đông, cho phép tuyết phản xạ lại nguồn bức xạ ấy. Một số nhà khoa học về khí
hậu cho hay, việc định tuyến lại các dòng sông ở Nga để tăng lượng nước lạnh
chảy đến những vùng tạo băng cũng có thể được thực hiện nhằm làm chậm đi sự ấm
lên toàn cầu.
E. But
will such schemes ever be implemented? Generally speaking,
those who are most cautious about geo-engineering are the
scientists involved in the research. Angel says that his plan is ‘no substitute
for developing renewable energy: the only permanent solution’.
And Dr Phil Rasch of the US-based Pacific Northwest National Laboratory is
equally guarded about the role of geo-engineering: ‘I think all of us agree
that if we were to end geo-engineering on a given day, then the planet
would return to its pre-engineered condition very rapidly, and probably
within ten to twenty years. That’s certainly something to worry about.’
·
implement (verb)
/ˈɪmplɪment/: tiến hành
·
ENG: to make something that
has been officially decided start to happen or be used
·
cautious (adj)
/ˈkɔːʃəs/: cẩn thận, thận trọng
·
ENG: being careful about
what you say or do, especially to avoid danger or mistakes; not taking any
risks
·
permanent (adj)
/ˈpɜːmənənt/: bền vững
·
ENG: lasting for a long
time or for all time in the future; existing all the time
Vậy
liệu những kế hoạch này sẽ được tiến hành không? Nói chung thì
những người thận trọng nhất về địa kỹ thuật lại chính là những nhà khoa học đã
tham gia nghiên cứu. Angel cho rằng dự án của ông cũng ‘không thể thay thế được
việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo vì sử dụng năng lượng tái tạo là giải
pháp bền vững nhất’. Tiến sĩ Phil Rasch thuộc Viện Thí nghiệm
Tây Bắc Thái Bình Dương đặt tại Mỹ thì lại bảo vệ quan điểm về tầm quan trọng
của địa kỹ thuật: ‘Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng một ngày nào đấy
khi chúng ra dừng việc áp dụng địa kỹ thuật, có lẽ chỉ trong khoảng 10-20 năm
Trái Đất sẽ nhanh chóng trở về tình trạng cũ thôi. Đấy mới chính là điều đáng
quan ngại.’
F. The
US National Center for Atmospheric Research has already suggested that the
proposal to inject sulphur into the atmosphere might affect rainfall patterns
across the tropics and the Southern Ocean. ‘Geo-engineering plans to inject
stratospheric aerosols or to seed clouds would act to cool the planet, and act
to increase the extent of sea ice,’ says Rasch. ‘But all the models suggest
some impact on the distribution of precipitation.’
·
precipitation (noun)
/prɪˌsɪpɪˈteɪʃn/: lượng mưa
·
ENG: rain, snow, etc. that
falls; the amount of this that falls
Trung
tâm Quốc gia về Nghiên cứu Khí quyển – Mỹ cho rằng việc đưa lưu huỳnh vào bầu
khí quyển có thể ảnh hưởng đến biểu đồ lượng mưa dọc theo các khu vực nhiệt đới
và Nam Đại Dương. Rasch cho biết: ‘Các dự án địa kỹ thuật đưa sương vào tầng
bình lưu hay tạo ra mây sẽ làm mát Trái Đất đồng thời cũng làm rộng thêm vùng
biển băng. Nhưng tất cả mô hình đều có ảnh hưởng đến sự
phân bố lượng mưa’.
G. A
further risk with geo-engineering projects is that you can “overshoot’, says Dr
Dan Hunt, from the University of Bristol’s School of Geophysical Sciences, who
has studied the likely impacts of the sunshade and aerosol schemes on the
climate. ‘You may bring global temperatures back to pre-industrial levels, but
the risk is that the poles will still be warmer than they should be and the
tropics will be cooler than before industrialisation.’ To avoid such a
scenario,” Hunt says, “Angel’s project would have to operate at half
strength; all of which reinforces his view that the best
option is to avoid the need for geo-engineering altogether.”
·
reinforce (verb)
/ˌriːɪnˈfɔːs/: củng cố
·
ENG: to make a structure or
material stronger, especially by adding another material to it
Tiến
sĩ Dan Hunt, từ Trường Khoa học Địa vật lý thuộc Đại học Bristol, người đã
nghiên cứu các tác động có thể xảy ra của các phương án che nắng và
phun sương đối với khí hậu đã nói rằng: một rủi ro nữa đối
với các dự án kỹ thuật địa lý là bạn có thể đi quá xa. Bạn
có thể đưa nhiệt độ toàn cầu trở lại mức tiền công nghiệp, nhưng rủi ro là các
cực vẫn sẽ ấm hơn mức bình thường và các vùng nhiệt đới sẽ mát hơn so với trước
khi công nghiệp hóa. Để tránh viễn cảnh này, dự án của Angel sẽ phải hoạt
động bằng một nửa sức mạnh; tất cả điều đó củng cố quan điểm
của ông ấy rằng lựa chọn tốt nhất là tránh hoàn toàn nhu cầu về kỹ thuật địa lý
”.
H. The
main reason why geo-engineering is supported by many in the scientific
community is that most researchers have little faith in the
ability of politicians to agree and then bring in the necessary carbon cuts.
Even leading conservation organisations see the value of investigating the potential
of geo-engineering. According to Dr Martin Sommerkorn, climate
change advisor for the World Wildlife Fund’s International Arctic
Programme, ‘Human-induced climate change has brought humanity to a
position where we shouldn’t exclude thinking thoroughly about this topic
and its possibilities.’
·
have little faith in
something: đặt ít niềm tin vào … .
Lý
do chính tại sao địa kỹ thuật được ủng hộ bởi rất nhiều người trong giới khoa
học là bởi vì hầu như những nhà khoa học không đặt niềm tin vào việc
các chính trị gia sẽ đồng ý và sau đó thực hiện việc cắt giảm lượng carbon cần
thiết. Ngay cả những tổ chức bảo tồn hàng đầu cũng nhận ra giá trị của việc
nghiên cứu tiềm năng của địa kỹ thuật. Theo Tiến sỹ Martin Sommerkorn, cố vấn
về thay đổi khí hậu cho Chương trình Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên Bắc
Cực: ‘Sự biến đổi khí hậu mà loài người gây ra đã khiến chúng ta không thể
không cân nhắc kỹ lưỡng về địa kỹ thuật cũng như những khả năng nó có thể tạo
ra’.
PART 3. CUỐN 17-2
05:17 |Insight or evolution?
Sự thấu hiểu
hay sự tiến hóa?
Two scientists consider the
origins of discoveries and other innovative behavior
Hai nhà khoa học xem xét nguồn
gốc của các khám phá và hành vi đổi mới khác.
Scientific
discovery is popularly believed to result from the sheer genius of
such intellectual stars as naturalist Charles Darwin and theoretical physicist
Albert Einstein. Our view of such unique contributions to science often
disregards the person’s prior experience and the efforts of their lesser-known
predecessors. Conventional wisdom also places great weight on insight in
promoting breakthrough scientific achievements, as if ideas spontaneously pop
into someone’s head – fully formed and functional
Người ta thường cho rằng khám
phá khoa học đến từ sự thiên tài tuyệt đối của những ngôi sao trí tuệ như nhà tự
nhiên học Charles Darwin và nhà vật lý lý thuyết Albert Einstein. Quan điểm của
chúng ta về những đóng góp độc đáo như vậy cho khoa học thường không xét đến
kinh nghiệm trước đó của người đó và nỗ lực của những người tiền nhiệm ít được
biết đến hơn của họ. Sự hiểu biết truyền thống thường coi trọng sự thấu hiểu
trong việc phát triển những thành tựu khoa học mang tính đột phá, như thể các ý
tưởng xuất hiện một cách tự nhiên trong đầu ai đó – được hình thành và hoạt động
đầy đủ.
There may be
some limited truth to this view. However, we believe that it largely
misrepresents the real nature of scientific discovery, as well as that of
creativity and innovation in many other realms of human endeavor.
Quan điểm này có phần đúng.
Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nó phần lớn thể hiện sai bản chất thực sự của
khám phá khoa học, cũng như của tính sáng tạo và đổi mới trong nhiều lĩnh vực
khác của nỗ lực con người.
Setting
aside such greats as Darwin and Einstein
whose monumental contributions are duly celebrated – we
suggest that innovation is more a process of trial and error, where two steps
forward may sometimes come with one step back, as well as one or more steps to
the right or left. This evolutionary view of human innovation undermines the
notion of creative genius and recognizes the cumulative nature of
scientific progress.
Bỏ qua những người vĩ đại như
Darwin và Einstein – những người có những đóng góp to lớn được tôn vinh xứng
đáng – Chúng tôi đề xuất rằng đổi mới là một quá trình thử nghiệm và sửa lỗi,
trong đó hai bước tiến đôi khi có thể đi kèm với một bước lùi, một hoặc
nhiều bước sang phải hoặc trái. Quan điểm cấp tiến này về sự đổi mới của con
người làm suy yếu quan niệm về thiên tài sáng tạo và công nhận bản chất tích
lũy của tiến bộ khoa học.
Consider
one unheralded scientist: John Nicholson, a mathematical physicist
working in the 1910s who postulated the existence of proto-elements
in outer space. By combining different numbers of weights of these
proto-elements’ atoms, Nicholson could recover the weights of all the elements
in the then-known periodic table. These successes are all the more noteworthy
given the fact that Nicholson was wrong about the presence of proto-elements:
they do not actually exist. Yet, amid his often fanciful theories
and wild speculations, Nicholson also proposed a novel theory about the
structure of atoms. Niels Bohr, the Nobel prize-winning father of modern atomic
theory, jumped off from this interesting idea to conceive his now-famous model
of the atom.
Xem xét một nhà khoa học đầy
bất ngờ: John Nicholson, một nhà vật lý toán học làm việc vào những năm 1910,
người đã đưa giả thuyết về sự tồn tại của các nguyên tố proto trong vũ trụ. Bằng
cách kết hợp các trọng lượng khác nhau của các nguyên tử nguyên tố proto này,
Nicholson đã có thể khôi phục trọng lượng của tất cả các nguyên tố trong bảng
tuần hoàn được biết đến sau đó. Những thành công này càng đáng chú ý hơn vì thực
tế là Nicholson đã sai về sự hiện diện của các nguyên tố proto: chúng không thực
sự tồn tại. Tuy nhiên, giữa những lý thuyết huyền ảo và những suy đoán hoang đường
của mình, Nicholson cũng đề xuất một lý thuyết mới lạ về cấu trúc của nguyên tử.
Niels Bohr, cha đẻ của lý thuyết nguyên tử hiện đại, người từng đoạt giải
Nobel, đã bắt đầu từ ý tưởng thú vị này để hình thành mô hình nguyên tử nổi tiếng
hiện nay của ông.
What are we
to make of this story? One might simply conclude that science is a collective
and cumulative enterprise. That may be true, but there may be a deeper insight
to be gleaned. We propose that science is constantly evolving, much as
species of animals do. In biological systems, organisms may display new
characteristics that result from random genetic mutations. In the same way,
random, arbitrary or accidental mutations of ideas may help
pave the way for advances in science. If mutations prove beneficial, then the
animal or the scientific theory will continue to thrive and perhaps
reproduce.
Chúng ta phải làm gì với câu
chuyện này? Ai đó có thể kết luận một cách đơn giản rằng khoa học giống như một
doanh nghiệp thu thập và tích lũy. Điều đó có thể đúng, nhưng có thể cần lượm lặt
thêm một cái nhìn sâu sắc hơn. Chúng ta đề xuất rằng khoa học thì tiến hóa liên
tục, giống như các loài động vật. Trong hệ thống sinh học, các sinh vật có thể
thể hiện các đặc điểm mới do đột biến gen ngẫu nhiên. Theo cách tương tự, sự đột
biến ngẫu nhiên, tùy ý hoặc tình cờ của các ý tưởng có thể giúp mở đường cho những
tiến bộ trong khoa học. Nếu các đột biến có lợi, thì động vật hoặc lý thuyết
khoa học sẽ tiếp tục phát triển mạnh và có lẽ sẽ sản sinh thêm.
Support for
this evolutionary view of behavioral innovation comes from many domains.
Consider one example of an influential innovation in US horseracing. The
so-called ‘acey-deucy’ stirrup placement, in which the rider’s foot in his left
stirrup is placed as much as 25 centimeters lower than the right, is believed
to confer important speed advantages when turning on oval tracks. It was
developed by a relatively unknown jockey named Jackie Westrope. Had Westrope
conducted methodical investigations or examined extensive film records in
a shrewd plan to outrun his rivals? Had he foreseen the
speed advantage that would be conferred by riding acey-deucy? No. He suffered a
leg injury, which left him unable to fully bend his left knee. His modification
just happened to coincide with enhanced left-hand turning performance. This led
to the rapid and widespread adoption of riding acey-deucy by many riders, a
racing style which continues in today’s thoroughbred racing.
Sự ủng hộ cho quan điểm tiến
hóa về đổi mới hành vi đến từ nhiều lĩnh vực. Hãy xem xét một ví dụ về một sự đổi
mới có ảnh hưởng trong nghề cưỡi ngựa của Hoa Kỳ. Vị trí được gọi là
‘acey-deucy’, bàn chân của người cưỡi ngựa ở bên trái được đặt thấp hơn 25cm so
với bên phải, được cho là mang lại lợi thế tốc độ quan trọng khi rẽ trên đường
đua hình bầu dục. Vị trí này được phát triển bởi một người đua ngựa tương đối
vô danh tên là Jackie Westrope. Có phải Westrope đã tiến hành các cuộc điều tra
có phương pháp hoặc xem lại rất nhiều bộ phim để xây dựng một kế hoạch khôn
ngoan để vượt qua các đối thủ của mình không? Anh ta có nhìn thấy trước lợi thế
về tốc độ khi cưỡi ngựa theo cách acey-deucy không? Không. Anh ấy bị chấn
thương ở chân, khiến anh ấy không thể uốn cong hoàn toàn đầu gối trái của mình.
Điều này chỉ xảy ra trùng hợp với việc rẽ trái hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến
việc nhiều tay đua áp dụng phương pháp acey-deucy một cách nhanh chóng và rộng
rãi, một phong cách đua mà tiếp tục được áp dụng trong các cuộc đua ngựa thuần
chủng ngày nay.
Plenty of
other stories show that fresh advances can arise from error, misadventure, and
also pure serendipity – a happy accident. For example, in the early 1970s, two
employees of the company 3M each had a problem: Spencer Silver had a product –
a glue which was only slightly sticky- and no use for it, while his colleague
Art Fry was trying to figure out how to affix temporary bookmarks in his hymn
book without damaging its pages. The solution to both these problems was the
invention of the brilliantly simple yet phenomenally successful Post-It note.
Such examples give lie to the claim that ingenious, designing minds are
responsible for human creativity and invention. Far more banal and mechanical
forces may be at work; forces that are fundamentally connected to the laws of
science.
Nhiều câu chuyện khác cho thấy
rằng nhiều tiến bộ mới mẻ có thể phát sinh từ những lỗi sai, tai nạn bất ngờ và
những sự cầu may thuần túy – một sự cố có lợi. Ví dụ, đầu những năm 1970, hai
nhân viên của công ty 3M đều gặp phải vấn đề của riêng mình: Spencer Silver có
một sản phẩm keo dán mà nó dán không dính chặt lắm và không hữu dụng gì cả;
trong khi đồng nghiệp của anh ta Art Fry thì cố gắng để tìm ra cách cố định những
đánh dấu trang tạm thời trong cuốn Thánh ca của mình mà không làm hư các trang
sách. Giải pháp cho cả hai vấn đề này là giấy ghi chú Post-It một phát
minh vô cùng đơn giản mà lại mang đến thành công lạ thường. Những ví dụ như vậy
đã bác bỏ luận điệu rằng những đầu óc khéo léo, tính toán thì tạo ra những sáng
tạo và phát minh của con người.
The notions
of insight, creativity and genius are often invoked, but they remain vague and
of doubtful scientific utility, especially when one considers the diverse and
enduring contributions of individuals such as Plato, Leonardo da Vinci,
Shakespeare, Beethoven, Galileo, Newton, Kepler, Curie, Pasteur and Edison.
These notions merely label rather than explain the evolution of human
innovations. We need another approach, and there is a promising candidate.
Khái niệm về sự thấu hiểu,
sáng tạo và thiên tài thường được viện dẫn nhưng chúng vẫn còn mơ hồ và tính thực
tiễn về khoa học vẫn còn không chắc chắn, đặc biệt khi chúng ta xem xét những
đóng góp đa dạng và lâu dài của những người như Plato, Leonardo da Vinci,
Shakespeare, Beethoven, Galileo, Newton, Kepler, Curie, Pasteur và
Edison. Những khái niệm này chỉ đơn thuần mang tính dán nhãn hơn là giải
thích sự tiến hóa của những đổi mới của con người. Chúng ta cần phương pháp tiếp
cận khác, và có một ứng viên đầy hứa hẹn
The Law of
Effect was advanced by psychologist Edward Thorndike in 1898, some 40 years
after Charles Darwin published his groundbreaking work on biological evolution,
On the Origin of Species. This simple law holds that organisms tend to repeat
successful behaviors and to refrain from performing unsuccessful ones. Just
like Darwin’s Law of Natural Selection, the Law of Effect involves an entirely
mechanical process of variation and selection, without any end objective in
sight.
Luật Hiệu Quả được đưa ra bởi
nhà tâm lý học Edward Thorndike vào năm 1898, khoảng
40 năm sau khi Charles Darwin xuất bản tác phẩm đột phá của mình về sự tiến hóa
sinh học mang tên “Nguồn gốc của muôn loài”. Định luật đơn giản này cho rằng
các loài có khuynh hướng lặp lại hành vi thành công và kiềm chế thực hiện những
hành vi không thành công. Cũng giống như Luật Tiến Hóa Tự Nhiên của Darwin, Luật
Hiệu Quả liên quan đến quy trình hoàn toàn máy móc của biến đổi và chọn lọc,
mà nó không có bất kì mục tiêu cuối cùng nào trong tầm mắt.
Of course,
the origin of human innovation demands much further study. In particular, the
provenance of the raw material on which the Law of Effect operates is not as
clearly known as that of the genetic mutations on which the Law of Natural
Selection operates. The generation of novel ideas and behaviors may not be
entirely random, but constrained by prior successes and failures of the current
individual (such as Bohr) or of predecessors (such as Nicholson).
Dĩ nhiên, nguồn gốc sự cải tiến
của con người cần nghiên cứu thêm. Đặc biệt, nguồn gốc của nguyên liệu thô cho
Luật Hiệu Quả hoạt động thì không rõ ràng như là của đột biến gen mà Luật Chọn
Lọc Tự Nhiên hoạt động. Những nhóm ý tưởng và hành vi mới lạ có thể không hoàn
toàn ngẫu nhiên, nhưng bị hạn chế bởi những thành công hay thất bại trước đó của
những cá nhân hiện tại (như là Bohr) hay của người tiền nhiệm (như là
Nicholson).
The time
seems right for abandoning the naive notions of intelligent design and genius,
and for scientifically exploring the true origins of creative behavior.
Dường như đã đến lúc chúng ta
từ bỏ những quan điểm ngây ngô về thiết kế thông minh và thiên tài, và dành nhiều
hơn cho việc khám phá khoa học về những nguồn gốc thực sự của hành vi sáng tạo.
PART 3. CUỐN 17-1
05:26 |
To catch a king
Anna Keay reviews Charles Spencer’s book about the hunt for King
Charles II during the English Civil War of the seventeenth century
Charles Spencer’s latest
book, To Catch a King, tells us the story of the
hunt for King Charles II in the six weeks after his resounding defeat at the
Battle of Worcester in September 1651. And what a story it is. After his father
was executed by the Parliamentarians in 1649, the young Charles II sacrificed
one of the very principles his father had died for and did a deal with Scots,
thereby accepting Presbyterianism* as the national religion in return for being
crowned King of Scots. His arrival in Edinburgh prompted the English
Parliamentary army to invade Scotland in a pre-emptive strike. This was
followed by a Scottish invasion of England. The two sides finally faced one
another at Worcester in the west of England in 1651. After being
comprehensively defeated on the meadows outside the city by the Parliamentarian
army, the 21-year-old king found himself the subject of a national manhunt,
with a huge sum offered for his capture, through a series of heart-poundingly
close escapes, to evade the Parliamentarians before seeking refuge in France.
For the next nine years, the penniless and defeated Charles wandered around
Europe with only a small group of loyal supporters.
Cuốn sách mới
nhất của Charles Spencer, "To Catch a King" (Bắt một vị vua), kể về
cuộc truy lùng Vua Charles II trong sáu tuần sau thất bại vang dội của ông tại
Trận Worcester vào tháng 9 năm 1651. Và đó quả là một câu chuyện ly kỳ. Sau khi
cha ông bị quân Nghị viện hành quyết năm 1649, Charles II trẻ tuổi đã hy sinh một
trong những nguyên tắc mà cha ông đã đấu tranh đến cùng và thỏa thuận với người
Scotland, chấp nhận Giáo hội Trưởng lão* làm quốc giáo để đổi lấy việc được
phong làm Vua của Scotland. Sự xuất hiện của ông ở Edinburgh đã thúc đẩy quân đội
Nghị viện Anh xâm lược Scotland trong một cuộc tấn công phủ đầu. Sau đó là cuộc
xâm lược nước Anh của người Scotland. Hai bên cuối cùng đã đối đầu nhau tại
Worcester ở phía tây nước Anh vào năm 1651. Sau khi bị quân đội Nghị viện đánh
bại hoàn toàn trên những cánh đồng bên ngoài thành phố, vị vua 21 tuổi trở
thành đối tượng bị truy nã trên toàn quốc, với một khoản tiền thưởng khổng lồ
được treo thưởng cho việc bắt giữ ông. Sau một loạt những lần thoát hiểm nghẹt
thở, ông đã trốn tránh quân Nghị viện trước khi tìm nơi nương náu ở Pháp. Trong
chín năm tiếp theo, Charles, giờ đây không còn tiền và bại trận, lang thang khắp
châu Âu chỉ với một nhóm nhỏ những người ủng hộ trung thành.
Years later, after his
restoration as king, the 50-year-old Charles II requested a meeting with the
writer and diarist Samuel Pepys. His intention when asking Pepys to commit his
story to paper was to ensure that this most extraordinary episode was never
forgotten. Over two three-hour sittings, the king related to him in great
detail his personal recollections of the six weeks he had spent as a fugitive.
As the king and secretary settled down (a scene that is surely a gift for a
future scriptwriter), Charles commenced his story: ‘After the battle was so
absolutely lost as to be beyond hope of recovery, I began to think of the best
way of saving myself.’
Nhiều năm
sau, sau khi được phục vị, Charles II, khi đó 50 tuổi, đã yêu cầu được gặp nhà
văn và người viết nhật ký Samuel Pepys. Mục đích của ông khi yêu cầu Pepys ghi
lại câu chuyện của mình là để đảm bảo rằng sự kiện phi thường này sẽ không bao
giờ bị lãng quên. Trong hai buổi gặp mặt kéo dài ba giờ mỗi buổi, nhà vua đã kể
lại cho ông nghe rất chi tiết những hồi ức cá nhân về sáu tuần ông phải chạy trốn.
Khi nhà vua và thư ký đã ổn định chỗ ngồi (một cảnh chắc chắn là món quà dành
cho nhà biên kịch tương lai), Charles bắt đầu câu chuyện của mình: "Sau
khi trận chiến hoàn toàn thất bại đến mức không còn hy vọng phục hồi, tôi bắt đầu
nghĩ đến cách tốt nhất để cứu lấy bản thân mình."
One of the joys of Spencer’s
book, a result not least of its use of Charles II’s own narrative as well as
those of his supporters, is just how close the reader gets to the action. The
day-by-day retelling of the fugitives’ doings provides delicious details: the
cutting of the king’s long hair with agricultural shears, the use of walnut
leaves to dye his pale skin, and the day Charles spent lying on a branch of the
great oak tree in Boscobel Wood as the Parliamentary soldiers scoured the
forest floor below. Spencer draws out both the humour – such as the
preposterous refusal of Charles’s friend Henry Wilmot to adopt disguise on the
grounds that it was beneath his dignity – and the emotional tension when the
secret of the king’s presence was cautiously revealed to his supporters.
Một trong những điều thú vị của
cuốn sách của Spencer, có được nhờ việc sử dụng chính lời kể của Charles II
cũng như của những người ủng hộ ông, là người đọc được tiếp cận rất gần với diễn
biến câu chuyện. Việc kể lại chi tiết từng ngày về những việc làm của những người
chạy trốn mang đến những trải nghiệm thú vị: việc cắt mái tóc dài của nhà vua bằng
kéo nông nghiệp, việc dùng lá óc chó để nhuộm làn da nhợt nhạt của ông, và ngày
Charles nằm trên cành cây sồi lớn trong rừng Boscobel trong khi binh lính Quốc
hội lùng sục khắp khu rừng bên dưới. Spencer đã khắc họa cả sự hài hước – chẳng
hạn như sự từ chối vô lý của người bạn Charles, Henry Wilmot, khi ông không muốn
cải trang vì cho rằng điều đó làm mất phẩm giá của mình – và cả sự căng thẳng về
mặt cảm xúc khi bí mật về sự hiện diện của nhà vua được tiết lộ một cách thận trọng
cho những người ủng hộ ông.
Charles’s adventures after
losing the Battle of Worcester hide the uncomfortable truth that whilst almost
everyone in England had been appalled by the execution of his father, they had
not welcomed the arrival of his son with the Scots army, but had instead firmly
bolted their doors. This was partly because he rode at the head of what looked
like a foreign invasion force and partly because, after almost a decade of
civil war, people were desperate to avoid it beginning again. This makes it all
the more interesting that Charles II himself loved the story so much ever
after. As well as retelling it to anyone who would listen, causing eye-rolling
among courtiers, he set in train a series of initiatives to memorialise it.
There was to be a new order of chivalry, the Knights of the Royal Oak. A series
of enormous oil paintings depicting the episode were produced, including a
two-metre-wide canvas of Boscobel Wood and a set of six similarly enormous
paintings of the king on the run. In 1660, Charles II commissioned the artist
John Michael Wright to paint a flying squadron of cherubs* carrying an oak tree
to the heavens on the ceiling of his bedchamber. It is hard to imagine many
other kings marking the lowest point in their life so enthusiastically, or
indeed pulling off such an escape in the first place.
Những cuộc
phiêu lưu của Charles sau thất bại trong trận Worcester che giấu một sự thật
khó chịu rằng trong khi hầu hết mọi người ở Anh đều kinh hoàng trước việc cha
ông bị hành quyết, họ lại không chào đón sự xuất hiện của con trai ông cùng
quân đội Scotland, mà thay vào đó đã đóng chặt cửa nhà mình. Điều này một phần
là vì ông dẫn đầu một lực lượng trông giống như quân xâm lược nước ngoài, và một
phần là vì, sau gần một thập kỷ nội chiến, người dân tuyệt vọng muốn tránh việc
chiến tranh tái diễn. Điều này càng làm cho câu chuyện về việc Charles II yêu
thích nó đến vậy trở nên thú vị hơn. Bên cạnh việc kể lại câu chuyện cho bất cứ
ai chịu lắng nghe, khiến các cận thần phải lắc đầu ngao ngán, ông còn khởi xướng
một loạt các sáng kiến để tưởng nhớ sự kiện này. Một hiệp hội hiệp sĩ mới được
thành lập, Hiệp sĩ Cây Sồi Hoàng gia. Một loạt các bức tranh sơn dầu khổng lồ
mô tả sự kiện này đã được thực hiện, bao gồm một bức tranh khổ rộng hai mét về
Rừng Boscobel và một bộ sáu bức tranh khổng lồ tương tự về nhà vua đang chạy trốn.
Năm 1660, Charles II đã ủy thác cho họa sĩ John Michael Wright vẽ một đội thiên
thần nhỏ đang bay mang một cây sồi lên trời trên trần phòng ngủ của ông. Thật
khó để tưởng tượng có vị vua nào khác lại đánh dấu thời điểm tồi tệ nhất trong
cuộc đời mình một cách nhiệt tình như vậy, hoặc thậm chí có thể thực hiện được
một cuộc trốn thoát ngoạn mục đến thế.
Charles Spencer is the perfect
person to pass the story on to a new generation. His pacey, readable prose
steers deftly clear of modern idioms and elegantly brings to life the details
of the great tale. He has even-handed sympathy for both the fugitive king and
the fierce republican regime that hunted him, and he succeeds in his desire to
explore far more of the background of the story than previous books on the
subject have done. Indeed, the opening third of the book is about how Charles
II found himself at Worcester in the first place, which for some will be reason
alone to read To Catch a King.
Charles Spencer là người hoàn hảo
để truyền lại câu chuyện này cho thế hệ mới. Văn phong mạch lạc, dễ đọc của ông
khéo léo tránh xa những lối diễn đạt hiện đại và làm sống động một cách tao nhã
những chi tiết của câu chuyện vĩ đại. Ông có sự cảm thông công bằng đối với cả
vị vua đang chạy trốn và chế độ cộng hòa tàn bạo đã truy lùng ông, và ông đã
thành công trong mong muốn khám phá nhiều hơn về bối cảnh câu chuyện so với các
cuốn sách trước đây về chủ đề này. Thật vậy, một phần ba đầu tiên của cuốn sách
nói về việc Charles II đã đến Worcester như thế nào, điều này đối với một số
người sẽ là lý do duy nhất để đọc cuốn "To Catch a King".
The tantalizing question left,
in the end, is that of what it all meant. Would Charles II have been a
different king had these six weeks never happened? The days and nights spent in
hiding must have affected him in some way. Did the need to assume disguises, to
survive on wit and charm alone, to use trickery and subterfuge to escape from
tight corners help form him? This is the one area where the book doesn’t quite
hit the mark. Instead its depiction of Charles II in his final years as an
ineffective, pleasure-loving monarch doesn’t do justice to the man (neither is
it accurate), or to the complexity of his character. But this one niggle
aside, To Catch a King is an excellent read, and
those who come to it knowing little of the famous tale will find they have a
treat in store.
Câu hỏi hóc
búa còn lại, cuối cùng, là tất cả những điều đó có ý nghĩa gì. Liệu Charles II
có phải là một vị vua khác nếu sáu tuần đó không bao giờ xảy ra? Những ngày đêm
lẩn trốn chắc chắn đã ảnh hưởng đến ông theo một cách nào đó. Liệu việc phải cải
trang, phải sống sót chỉ bằng trí thông minh và sự quyến rũ, phải sử dụng mưu mẹo
và thủ đoạn để thoát khỏi những tình huống khó khăn có giúp hình thành nên con
người ông? Đây là điểm duy nhất mà cuốn sách chưa thực sự đạt được mục tiêu.
Thay vào đó, miêu tả Charles II trong những năm cuối đời như một vị vua bất
tài, ham mê hưởng lạc không phản ánh đúng con người ông (và cũng không chính
xác), hay sự phức tạp trong tính cách của ông. Nhưng bỏ qua điểm nhỏ này,
"To Catch a King" là một cuốn sách tuyệt vời, và những ai tiếp cận nó
mà không biết nhiều về câu chuyện nổi tiếng này sẽ thấy mình được thưởng thức một
tác phẩm đáng giá.