Loài
Thylacine / Hổ Tasmania / Chó sói Tasmania
The
extinct thylacine, also known as the Tasmanian tiger, was a marsupial* that
bore a superficial resemblance to a dog. Its most distinguishing feature was
the 13-19 dark brown stripes over its back, beginning at the rear of the body
and extending onto the tail. The thylacine’s average nose-to-tail length for
adult males was 162.6 cm, compared to 153.7 cm for females.
Loài
thylacine đã tuyệt chủng, còn được gọi là hổ Tasmania, là một loài thú có túi
có bề ngoài rất giống con chó. Đặc điểm nổi bật nhất của nó là 13-19 sọc màu
nâu sẫm trên lưng, bắt đầu ở phía sau cơ thể và kéo dài đến đuôi. Chiều dài
trung bình từ lỗ mũi đến đuôi của con đực trưởng thành là 162.6 cm, còn con cái
là 153.7 cm.
The
thylacine appeared to occupy most types of terrain except dense rainforest,
with open eucalyptus forest thought to be its prime habitat. In terms of
feeding, it was exclusively carnivorous, and its stomach was muscular with an
ability to distend so that it could eat large amounts of food at one time,
probably an adaptation to compensate for long periods when hunting was
unsuccessful and food scarce. The thylacine was not a fast runner and probably
caught its prey by exhausting it during a long pursuit. During long-distance
chases, thylacines were likely to have relied more on scent than any other
sense. They emerged to hunt during the evening, night and early morning and
tended to retreat to the hills and forest for shelter during the day. Despite
the common name ‘tiger’, the thylacine had a shy, nervous temperament. Although
mainly nocturnal, it was sighted moving during the day and some individuals
were even recorded basking in the sun
Thylacine
dường như sống ở hầu hết các loại địa hình ngoại trừ rừng nhiệt đới rậm rạp, với
rừng bạch đàn được cho là môi trường sống chính của nó. Về thức ăn, nó là loài
chỉ ăn thịt, và dạ dày của nó rất cơ bắp với khả năng phồng to lên để có thể ăn
một lượng lớn thức ăn cùng một lúc, có lẽ là một sự thích nghi để bù đắp cho thời
gian dài chúng săn bắn không thành công và khan hiếm thức ăn. Thylacine không
phải là loài chạy nhanh và có lẽ tóm gọn con mồi bằng cách dùng hết sức để truy
đuổi dài. Trong các cuộc rượt đuổi đường dài, thylacine có lẽ dựa vào mùi hương
nhiều hơn bất kỳ giác quan nào khác. Chúng xuất hiện để săn mồi vào buổi tối,
đêm và sáng sớm và có xu hướng rút lên đồi và rừng để trú ẩn vào ban ngày. Mặc
dù có tên chung là “hổ”, thylacine có tính khí nhút nhát, lo lắng. Mặc dù chủ yếu
hoạt động về đêm, nhưng nó được nhìn thấy di chuyển vào ban ngày và một số cá
thể thậm chí còn phơi mình dưới ánh nắng mặt trời.
The
thylacine had an extended breeding season from winter to spring, with
indications that some breeding took place throughout the year. The thylacine,
like all marsupials, was tiny and hairless when born. Newborns crawled into the
pouch on the belly of their mother, and attached themselves to one of the four
teats, remaining there for up to three months. When old enough to leave the
pouch, the young stayed in a lair such as a deep rocky cave, well-hidden nest
or hollow log, whilst the mother hunted.
Thylacine
có một mùa sinh sản kéo dài từ mùa đông sang mùa xuân, với nhiều dấu hiệu cho
thấy một số sinh sản diễn ra quanh năm. Giống như tất cả các loài thú có túi,
thylacine đều rất nhỏ và không có lông khi được sinh ra. Thylacine con chui vào
trong cái túi trên bụng của mẹ chúng và tự ngậm một trong bốn núm vú, ở đó cho
đến ba tháng. Khi đủ lớn để rời khỏi túi, con non ở trong hang ổ như hang đá
sâu, tổ kín đáo hoặc khúc gỗ rỗng, trong khi con mẹ săn mồi.
Approximately
4,000 years ago, the thylacine was widespread throughout New Guinea and most of
mainland Australia, as well as the island of Tasmania. The most recent,
well-dated occurrence of a thylacine on the mainland is a carbon-dated fossil
from Murray Cave in Western Australia, which is around 3,100 years old. Its
extinction coincided closely with the arrival of wild dogs called dingoes in
Australia and a similar predator in New Guinea. Dingoes never reached Tasmania,
and most scientists see this as the main reason for the thylacine’s survival
there.
Khoảng
4.000 năm trước, thylacine phổ biến khắp New Guinea và phần lớn lục địa
Australia, cũng như đảo Tasmania. Sự xuất hiện gần đây nhất của một thylacine
trên đất liền là một hóa thạch có niên đại carbon từ Hang Murray ở Tây Úc khoảng
3.100 năm tuổi. Sự tuyệt chủng của nó trùng khớp với sự xuất hiện của những con
chó hoang được gọi là dingoes ở Úc và một loài săn mồi tương tự ở New Guinea.
Dingoes không bao giờ đến được Tasmania, và hầu hết các nhà khoa học coi đây là
lý do chính cho sự sống sót của thylacine ở đó.
The
dramatic decline of the thylacine in Tasmania, which began in the 1830s and
continued for a century, is generally attributed to the relentless efforts of
sheep farmers and bounty hunters** with shotguns. While this determined
campaign undoubtedly played a large part, it is likely that various other
factors also contributed to the decline and eventual extinction of the species.
These include competition with wild dogs introduced by European settlers, loss
of habitat along with the disappearance of prey species, and a distemper-like
disease which may also have affected the thylacine.
Sự
suy giảm mạnh mẽ của thylacine ở Tasmania bắt đầu từ những năm 1830 và kéo dài
trong một thế kỷ, sự suy giảm này thường được cho là do những nỗ lực không ngừng
của những người chăn nuôi cừu và thợ săn tiền thưởng với súng ngắn. Mặc dù chiến
dịch quyết định này chắc chắn đóng một vai trò quan trọng, nhưng có khả năng là
sự suy giảm và sự tuyệt chủng của loài này xuất phát từ nhiều yếu tố khác nữa.
Chúng bao gồm sự cạnh tranh với những con chó hoang do những người định cư ở
châu Âu đưa vào, việc mất môi trường sống cùng với sự biến mất của các loài con
mồi và một căn bệnh giống như nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến thylacine.
There
was only one successful attempt to breed a thylacine in captivity, at Melbourne
Zoo in 1899. This was despite the large numbers that went through some zoos,
particularly London Zoo and Tasmania’s Hobart Zoo. The famous naturalist John
Gould foresaw the thylacine’s demise when he published his Mammals of Australia
between 1848 and 1863, writing, “The numbers of this singular animal will
speedily diminish, extermination will have its full sway, and it will then,
like the wolf of England and Scotland, be recorded as an animal of the past.”
Chỉ
có một sự nỗ lực thành công duy nhất để sinh sản một con thylacine trong nuôi
nhốt tại sở thú Melbourne năm 1989 mặc dù một số lượng lớn đã trải qua ở một số
sở thú, đặc biệt sở thú London và Hobart ở Tasmania. Nhà tự nhiên học nổi tiếng
John Gould đã nhìn thấy trước sự kết thúc của loài thylacine khi ông xuất bản
cuốn sách về động vật có vú của Australian vào những năm 1848 và 1863, trong đó
viết rằng “Số lượng của loài kì dị này sẽ giảm sút nhanh chóng, sự hủy diệt sẽ
xảy ra hoàn toàn và sau đó nó cũng giống như loài chó sói của Anh và Scotland
đã được ghi nhận như là loài động vật của quá khứ.
However,
there seems to have been little public pressure to preserve the thylacine, nor
was much concern expressed by scientists at the decline of this species in the
decades that followed. A notable exception was T.T. Flynn, Professor of Biology
at the University of Tasmania. In 1914, he was sufficiently concerned about the
scarcity of the thylacine to suggest that some should be captured and placed on
a small island. But it was not until 1929, with the species on the very edge of
extinction, that Tasmania’s Animals and Birds Protection Board passed a motion
protecting thylacines only for the month of December, which was thought to be
their prime breeding season. The last known wild thylacine to be killed was
shot by a farmer in the north-east of Tasmania in 1930, leaving just captive
specimens. Official protection of the species by the Tasmanian government was
introduced in July 1936, 59 days before the last known individual died in
Hobart Zoo on 7th September, 1936.
Tuy
nhiên, dường như không có sức ép dân chúng để bảo tồn loài thylacine, kể cả các
nhà khoa học cũng không thể hiện quan tâm gì về sự sụt giảm của loài này trong
nhiều thập kỉ tiếp theo. Một ngoại lệ đáng chú ý là T.T.Flyn, Giáo sư Sinh học
của trường đại học Tasmania. Năm 1914, ông ấy đã quan tâm thích đáng về sự khan
hiếm của loài thylacine khi đề xuất rằng chúng ta nên bắt và nuôi nhốt chúng
trên một hòn đảo nhỏ. Nhưng trước 1929, khi loài này đang trên bờ tuyệt chủng
thì Ban bảo vệ chim và động vật của Tasmania đã thông qua một bản kiến nghị bảo
vệ thylacine chỉ trong vòng một tháng 12 – thời điểm được cho là mùa sinh sản
chính của chúng. Con thylacine hoang dã cuối cùng được biết đến đã bị một người
nông dân ở vùng Đông Bắc của Tasamia bắt chết vào năm 1930, chỉ để lại những mẫu
bị nuôi nhốt. Sự bảo vệ chính thức của loài này bởi Chính Phủ Tasmania được đưa
ra vào tháng 7 năm 1936, 59 ngày trước khi con Thylacine được biết đến cuối
cùng chết ở sở thú Hobart vào ngày 7 tháng 12 năm 1936.
There
have been numerous expeditions and searches for the thylacine over the years,
none of which has produced definitive evidence that thylacines still exist. The
species was declared extinct by the Tasmanian government in 1986.
Vô
số các cuộc thăm dò và tìm kiếm loài thylacine trong nhiều năm qua, nhưng không
có cái nào đưa ra bằng chứng xác định rằng thylacines vẫn còn tồn tại. Chính phủ
Tasmania đã tuyên bố loài này bị tuyệt chủng vào năm 1986.

0 Nhận xét