Palm
Oil
Dầu
Cọ
A. Palm oil is an
edible oil derived from the fruit of the African oil palm tree, and is
currently the most consumed vegetable oil in the world. It’s almost certainly
in the soap we wash with in the morning, the sandwich we have for lunch, and
the biscuits we snack on during the day. Why is palm oil so attractive for
manufacturers? Primarily because its unique properties – such as remaining
solid at room temperature – make it an ideal ingredient for long-term
preservation, allowing many packaged foods on supermarket shelves to have ‘best
before’ dates of months, even years, into the future.
Dầu cọ là một loại dầu ăn được chiết xuất
từ quả của cây cọ dầu Châu Phi, và hiện là loại dầu thực vật được tiêu thụ
nhiều nhất trên thế giới. Nó gần như chắc chắn có trong xà phòng chúng ta rửa
vào buổi sáng, bánh sandwich chúng ta ăn trưa và bánh quy chúng ta ăn vặt trong
ngày. Tại sao dầu cọ lại hấp dẫn các nhà sản xuất đến vậy? Chủ yếu là do các
đặc tính độc đáo của nó – như việc giữ được thể rắn ở nhiệt độ phòng –
khiến nó trở thành một thành phần lý tưởng cho việc bảo quản lâu dài, cho phép
nhiều loại thực phẩm đóng gói trên kệ siêu thị có hạn sử dụng tốt nhất hàng
tháng, thậm chí hàng năm, trong tương lai.
B. Many farmers
have seized the opportunity to maximise the planting of oil palm trees. Between
1990 and 2012, the global land area devoted to growing oil palm trees grew from
6 to 17 million hectares, now accounting for around ten percent of total
cropland in the entire world. From a mere two million tonnes of palm oil being
produced annually globally 50 years ago, there are now around 60 million tonnes
produced every single year, a figure looking likely to double or even triple by
the middle of the century.
Nhiều nông dân đã nắm bắt cơ hội để tối đa
hóa việc trồng cây cọ dầu. Từ năm 1990 đến năm 2012, diện tích đất toàn cầu
dành để trồng cây cọ dầu đã tăng từ 6 đến 17 triệu ha, hiện chiếm khoảng 10%
tổng diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới. Từ chỉ hai triệu tấn dầu cọ
được sản xuất hàng năm trên toàn cầu cách đây 50 năm, hiện đã có khoảng 60
triệu tấn được sản xuất mỗi năm, một con số có vẻ sẽ tăng gấp đôi hoặc thậm chí
gấp ba vào giữa thế kỷ này.
C. However, there
are multiple reasons why conservationists cite the rapid spread of oil palm
plantations as a major concern. There are countless news stories of
deforestation, habitat destruction and dwindling species populations, all as a
direct result of land clearing to establish oil palm tree monoculture on an
industrial scale, particularly in Malaysia and Indonesia. Endangered species –
most famously the Sumatran orangutan, but also rhinos, elephants, tigers, and
numerous other fauna – have suffered from the unstoppable spread of oil palm
plantations.
Tuy nhiên, có nhiều lý do tại sao các nhà
bảo tồn lại cho rằng sự lây lan nhanh chóng của các đồn điền cọ dầu là một mối
lo ngại lớn. Có vô số tin tức về nạn phá rừng, hủy hoại môi trường sống và sự
suy giảm của các loài, tất cả đều là kết quả trực tiếp của việc khai khẩn đất
đai để thiết lập độc canh cây cọ dầu trên quy mô công nghiệp, đặc biệt là ở
Malaysia và Indonesia. Các loài có nguy cơ tuyệt chủng – nổi tiếng nhất là đười
ươi Sumatra, nhưng cũng có tê giác, voi, hổ và vô số loài động vật khác –
đã phải chịu sự lan rộng không ngừng nghỉ của các đồn điền cọ dầu
D. “Palm oil is
surely one of the greatest threats to global biodiversity,” declares Dr Farnon
Ellwood of the University of the West of England, Bristol. “Palm oil is
replacing rainforest, and rainforest is where all the species are. That’s a
problem” This has led to some radical questions among environmentalists, such
as whether consumers should try to boycott palm oil entirely.
Meanwhile
Bhavani Shankar, Professor at London’s School of Oriental and African Studies,
argues, “It’s easy to say that palm oil is the enemy and we should be against
it. It makes for a more dramatic story, and it’s very intuitive. But given the
complexity of the argument, I think a much more nuanced story is closer to the
truth.”
Tiến sĩ Farnon Ellwood thuộc Đại học West
of England, Bristol tuyên bố: ‘Dầu cọ chắc chắn là một trong những mối đe dọa
nghiêm trọng nhất đối với đa dạng sinh học toàn cầu. Dầu cọ đang thay thế rừng
nhiệt đới tron khi rừng nhiệt đới là nơi sinh sống của tất cả các loài. Đó là
một vấn đề. Điều này đã dẫn đến một vài câu hỏi cực đoan trong số các nhà bảo
vệ môi trường, chẳng hạn như liệu người tiêu dùng có nên cố gắng tẩy chay hoàn
toàn dầu cọ hay không.
Trong khi đó Bhavani Shankar, Giáo sư tại
Trường Nghiên cứu Phương Đông và Châu Phi ở London, lập luận, “Thật dễ để nói
rằng dầu cọ là kẻ thù và chúng ta nên chống lại nó. Nó tạo ra một câu chuyện
kịch tính hơn và nó mang tính trực giác. Nhưng với sự phức tạp của lập luận,
tôi nghĩ rằng một câu chuyện mang nhiều sắc thái hơn sẽ gần với sự thật hơn”
E. One response to the
boycott movement has been the argument for the vital role palm oil plays in
lifting many millions of people in the developing world out of poverty. Is it
desirable to have palm oil boycotted, replaced, eliminated from the global
supply chain, given how many low-income people in developing countries depend
on it for their livelihoods? How best to strike a utilitarian balance between
these competing factors has become a serious bone of contention.
Một phản ứng đối với phong trào tẩy chay
này là lập luận về vai trò thiết yếu của dầu cọ trong việc đưa hàng triệu người
ở các nước đang phát triển thoát khỏi đói nghèo. Liệu dầu cọ có đáng bị tẩy
chay, thay thế, loại bỏ khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu hay không, trong khi có
bao nhiêu người có thu nhập thấp ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào dầu
cọ để kiếm sống? Làm thế nào để đạt được sự cân bằng thực tế giữa các yếu tố
cạnh tranh này một cách tốt nhất đã trở thành một nguyên nhân tranh cãi nghiêm
trọng.
F. Even the
deforestation argument isn’t as straightforward as it seems. Oil palm
plantations produce at least four and potentially up to ten times more oil per
hectare than soybean, rapeseed, sunflower or other competing oils. That
immensely high yield – which is predominantly what makes it so profitable – is
potentially also an ecological benefit. If ten times more palm oil can be
produced from a patch of land than any competing oil, then ten times more land
would need to be cleared in order to produce the same volume of oil from that
competitor.
As
for the question of carbon emissions, the issue really depends on what oil palm
trees are replacing. Crops vary in the degree to which they sequester carbon –
in other words, the amount of carbon they capture from the atmosphere and store
within the plant. The more carbon a plant sequesters, the more it reduces the
effect of climate change. As Shankar explains: “[Palm oil production] actually
sequesters more carbon in some ways than other alternatives. […] Of course, if
you’re cutting down virgin forest it’s terrible – that’s what’s happening in
Indonesia and Malaysia, it’s been allowed to get out of hand. But if it’s
replacing rice, for example, it might actually sequester more carbon.”
Ngay cả lập luận về nạn phá rừng cũng
không đơn giản như người ta vẫn tưởng. Các đồn điền dầu cọ sản xuất lượng dầu
trên một héc-ta gấp ít nhất 4 lần, hoặc thậm chí 10 lần, so với đậu nành, hạt
cải dầu, hướng dương hoặc các loại dầu cạnh tranh khác. Năng suất cao ngất
ngưởng đó – chủ yếu là yếu tố khiến nó có lợi nhuận cao – cũng có tiềm năng về
một lợi ích sinh thái. Nếu dầu cọ có thể được sản xuất từ một mảnh đất nhiều
hơn mười lần so với bất kỳ loại dầu cạnh tranh nào, thì sẽ cần phải khai khẩn
đất nhiều hơn mười lần để sản xuất cùng một khối lượng dầu tương tự từ đối thủ
cạnh tranh đó.
Đối với câu hỏi về lượng khí thải carbon,
vấn đề thực sự phụ thuộc vào cây cọ dầu đang thay thế cây nào. Cây trồng có mức
độ cô lập carbon khác nhau – nói cách khác, lượng carbon mà chúng nhận từ khí
quyển và lưu trữ trong cây khác nhau. Thực vật càng cô lập nhiều carbon thì
càng làm giảm tác động biến đổi khí hậu. Như Shankar giải thích: “(Sản xuất dầu
cọ) thực sự cô lập nhiều carbon hơn so với các lựa chọn thay thế khác theo một
cách nào đó. […] Tất nhiên, nếu bạn chặt phá rừng nguyên sinh thì điều đó thật
khủng khiếp – đó là những gì đang xảy ra ở Indonesia và Malaysia, nó đã vượt ra
khỏi tầm tay. Nhưng nếu bạn trồng cây cọ dầu thay thế lúa chẳng hạn, nó có thể
thực sự cô lập nhiều carbon hơn.”
G. The industry is
now regulated by a group called the Roundtable on Sustainable Palm Oil (RSPO),
consisting of palm growers, retailers, product manufacturers, and other
interested parties. Over the past decade or so, an agreement has gradually been
reached regarding standards that producers of palm oil have to meet in order
for their product to be regarded as officially ‘sustainable’. The RSPO insists
upon no virgin forest clearing, transparency and regular assessment of carbon
stocks, among other criteria. Only once these requirements are fully satisfied
is the oil allowed to be sold as certified sustainable palm oil (CSPO). Recent
figures show that the RSPO now certifies around 12 million tonnes of palm oil
annually, equivalent to roughly 21 percent of the world’s total palm oil
production.
Ngành công nghiệp này hiện được điều chỉnh
bởi một nhóm được gọi là Hội nghị bàn tròn về Dầu cọ bền vững (RSPO), bao gồm
những người trồng cọ, nhà bán lẻ, nhà sản xuất sản phẩm và các bên quan tâm
khác. Trong hơn một thập kỷ qua, một thoả thuận dần dần đã đạt được liên quan
đến các tiêu chuẩn mà các nhà sản xuất dầu cọ phải đáp ứng để sản phẩm của họ
được coi là chính thức “bền vững” .RSPO khẳng định không có việc chặt phá rừng
nguyên sinh, tính minh bạch và đánh giá thường xuyên trữ lượng carbon, và các
tiêu chí khác nữa. Chỉ khi các yêu cầu này được đáp ứng đầy đủ thì dầu mới được
phép bán dưới dạng dầu cọ bền vững được chứng nhận (CSPO). Các số liệu gần đây
cho thấy RSPO hiện chứng nhận khoảng 12 triệu tấn dầu cọ hàng năm, tương đương
khoảng 21% tổng sản lượng dầu cọ thế giới.
H. There is even
hope that oil palm plantations might not need to be such sterile monocultures,
or ‘green deserts’, as Ellwood describes them. New research at Ellwood’s lab
hint at one plant which might make all the difference. The bird’s nest fern (Asplenium nidus) grows
on trees in an epiphytic fashion (meaning it’s dependent on the tree only for
support, not for nutrients), and is native to many tropical regions, where as a
keystone species it performs a vital ecological role. Ellwood believes that
reintroducing the bird’s nest fern into oil palm plantations could potentially
allow these areas to recover their biodiversity, providing a home for all
manner of species, from fungi and bacteria, to invertebrates such as insects,
amphibians, reptiles and even mammals.
Thậm chí có hy vọng rằng các đồn điền
trồng cọ dầu có thể không cần phải là những cây trồng độc canh vô trùng hay ‘sa
mạc xanh’ như Ellwood mô tả. Nghiên cứu mới tại phòng thí nghiệm của Ellwood
gợi ý về một loại cây có thể tạo nên sự khác biệt. Dương xỉ tổ chim (Asplenium
nidus) mọc trên cây theo kiểu biểu sinh (có nghĩa là nó phụ thuộc vào cây chỉ
để hỗ trợ chứ không phải để lấy chất dinh dưỡng), và có nguồn gốc ở nhiều vùng
nhiệt đới, nơi nó loài chủ chốt, thực hiện một vai trò sinh thái quan trọng.
Ellwood tin rằng việc đưa dương xỉ tổ chim vào các đồn điền cọ dầu có thể cho
phép các khu vực này đảm bảo đa dạng sinh học, cung cấp ngôi nhà cho tất cả các
loài, từ nấm và vi khuẩn, đến động vật không xương sống như côn trùng, lưỡng
cư, bò sát và thậm chí cả động vật có vú.

0 Nhận xét