PART 1
Woman:
Hello. Eastwood Community Centre.
Người
phụ nữ: Xin chào, Trung tâm Cộng đồng Eastwood xin nghe.
Man: Oh,
hello. My name’s Andrew Dyson. I’m calling about the evening classes you offer.
Người
đàn ông: Ồ, xin chào. Tôi tên là Andrew Dyson. Tôi gọi để tham khảo về những lớp
học buổi tối bên bạn cung cấp.
Woman: OK,
Mr Dyson, are there any classes in particular that you’re interested in?
Người
phụ nữ: Vâng, ông Dyson, có những lớp nào đặc biệt mà bạn quan tâm không?
Man: Yes,
you’ve got a class called ‘Painting with watercolours’, I believe.
Người
đàn ông: Có, bên bạn có một lớp học tên là Vẽ tranh bằng màu nước, tôi tin là vậy.
Woman:
That’s right. It’s a popular class so this term it’ll be moving to the hall, so
they’ve got more room.
Người
phụ nữ. Đúng vậy. Đây là một lớp học phổ biến cho nên học kỳ này nó sẽ được
chuyển sang hội trường, vậy nên sẽ có nhiều phòng hơn.
Man: Right. I know it’s on Tuesdays
but what time exactly?
Người
đàn ông: Vâng. Tôi biết lớp này diễn ra vào thứ ba nhưng thời gian chính xác là
mấy giờ?
Woman: It was 6.30 last term, but let me
just have a look at the details. OK, it’ll be 7.30 this time,
probably it suits more people (Q1).
Người
phụ nữ: Khóa trước là 6.30, nhưng để tôi xem các chi tiết. Được rồi, lần này sẽ
là 7.30, có lẽ nó phù hợp với nhiều người hơn.
Man: Well,
it’s my wife who’s really interested and that’ll be good for her because she’s
home from work by 7.15 – that’ll give her just enough time to get there. Um, what does she need to bring?
Người
đàn ông: Vâng, thật ra thì vợ tôi thật sự quan tâm và giờ đó thật tốt cho cô ấy
bởi vì cô ấy đi làm về lúc 7.15 – giờ đó sẽ cho cô ấy đủ thời gian để đến trung
tâm. Hm, cô ấy cần mang theo những gì?
Woman: OK,
well paints are provided by the tutor, I know that. Um, the information says she’ll
need just a jar for water – and some pencils for drawing
(Q2). There are also lots of aprons here, so she needn’t worry
what she’s wearing. And the cost for four classes is £45, including paints, as
I said.
Người
phụ nữ: Vâng, tôi được biết rằng, tuýp/thỏi màu vẽ được gia sư cung cấp sẵn.
Hm, thông tin cho biết cô ấy chỉ cần một bình đựng nước – và vài cây bút chì để
vẽ. Ở đây cũng có rất nhiều tạp dề, vậy nên cô ấy không cần lo lắng về đồ cô ấy
mặc. Và chi phí cho bốn buổi học là 45 bảng, bao gồm màu vẽ, như tôi đã
nói.
Man: OK, now
we’re both quite keen on the Maori language class.
Người
đàn ông: Vâng, giờ thì chúng tôi đều khá hào hứng với lớp học ngôn ngữ Maori.
Woman: There
are spaces on the next course, so you could join that.
Người
phụ nữ. Còn chỗ trống cho khóa học kế tiếp, nên bạn có thể tham gia.
Man: Oh,
good. Which room will that be in?
Người
đàn ông: Ôi tốt quá. Lớp đó sẽ diễn ra ở phòng nào vậy?
Woman: When you come in through the
entrance of the community centre building, you’ll need to go straight up the
stairs in front of you, all the way to the top. And it’s the small room
you’ll find there (Q3).
Người
phụ nữ. Khi bạn đi qua lối vào của tòa nhà trung tâm cộng đồng, bạn cần phải đi
lên cầu thang trước mặt bạn, đi hết các bậc thang để lên tầng trên. Và phòng học
chính là căn phòng nhỏ mà bạn sẽ tìm thấy ở đó.
Man: I see. All right, and let me just
check when it’s starting. I heard from someone that the July course has been
delayed until August.
Người
đàn ông. Tôi hiểu rồi. Được rồi, và đợi tôi kiểm tra xem khi nào khóa học bắt đầu.
Tôi nghe ai đó nói rằng khóa học tháng bảy đã bị trì hoãn đến tháng tám.
Woman: I’m afraid so (Q4).
And we’re halfway through the June course at the moment so there’s not much
point you taking that.
Người
phụ nữ. Tôi e là như vậy. Và hiện tại chúng tôi đang trải qua được nửa chặng đường
của khóa học tháng sáu vậy nên không còn nhiều thời gian để bạn tham gia.
Man: I guess
we’ll have to wait, then.
Người
đàn ông: Tôi đoán rằng chúng tôi sẽ phải chờ.
Woman: Well,
when you do come, the tutor recommends bringing a small recorder with you just
so you can listen again later, and er, the cost for five classes is currently
£40.
Người
phụ nữ: Vâng, khi bạn đến, gia sư khuyên bạn nên mang theo một máy ghi âm nhỏ
bên mình để bạn có thể nghe lại sau đó, và chi phí cho năm buổi học hiện tại là
40 bảng.
Man: OK,
useful information to know. Um, there’s one more class I’m interested in –
that’s the digital photography class.
Người
đàn ông: OK, một thông tin hữu ích cần biết. Hm, có một lớp học khác mà tôi
quan tâm – đó là lớp nhiếp ảnh kỹ thuật số.
Woman: Oh,
I’ve taken that class myself. The tutor’s very good. That’ll be in room 9 and
it’s starting in two weeks’ time – in the evening – every Wednesday at 6
o’clock.
Người
phụ nữ. Ồ, chính tôi đã tham gia lớp học đó. Gia sư rất tâm huyết. Lớp đó sẽ học
ở phòng 9 và bắt đầu sau hai tuần nữa – vào buổi tối – vào mỗi thứ tư lúc 6 giờ.
Man: Um, obviously I need to bring the
camera with me. I suppose it’d be useful to have
the instructions that go with the camera, too.
Người
đàn ông: Hm, hiển nhiên là tôi cần phải mang theo máy ảnh. Tôi cho rằng sẽ thật
hữu ích nếu có các hướng dẫn đi kèm với máy ảnh.
Woman: I’d say so (Q5).
Um, some people bring along a lot of accessories like extra lenses, but there’s
really no need for this class. It’s mainly focusing on composition really, and
getting the most out of the basic camera.
Người
phụ nữ: Tôi muốn nói vậy. Hm, vài người mang theo nhiều phụ kiện như các ống
kính, nhưng chúng thực sự không cần thiết trong lớp học này. Lớp học thật sự chủ
yếu tập trung vào bố cục bức ảnh, và việc tận dụng tối đa máy ảnh cơ bản.
Man: That’s
exactly what I need. And how much
does it cost?
Người
đàn ông. Đó chính là điều mà tôi cần. Và, chi phí của lớp này là bao
nhiêu?
Woman: Let’s see. For four classes, it’s
£35, but if you take eight, it works out as £55, so you’re making a bit of
a saving – £15 that is (Q6).
Người
phụ nữ: Để tôi xem. Học phí cho bốn buổi học là 35 bàng, nhưng nếu bạn học tám
buổi, thì tổng là 55 bảng, vậy nên bạn có thể tiết kiệm được một ít, đó là 15 bảng.
Man: I see.
Người
đàn ông: Tôi hiểu rồi.
Man: OK, now just another question for
the watercolours class, I’ve just remembered that my wife asked me to find out
about the level – who’s it for?
Người
đàn ông: OK, giờ thì chỉ là một câu hỏi khác về lớp học vẽ màu nước; Tôi vừa nhớ
rằng vợ tôi đã nhờ tôi tìm hiểu về cấp độ – ai phù hợp với lớp học này?
Woman: OK, well you don’t have to be
very skilled or anything like that. It’s designed for beginners, actually
(Q7). People who might see art as a hobby rather than as a
professional opportunity.
Người
phụ nữ: OK, vâng bạn không cần phải quá điêu luyện hay đại khái như vậy. Thực sự
thì lớp học được thiết kế cho những người mới bắt đầu. Những người mà có thể
xem nghệ thuật là sở thích hơn là một cơ hội nghề nghiệp,
Man: That
sounds like my wife. And er, who do
I talk to if I want to find out some more about the Maori language
classes?
Người
đàn ông: Nghe giống như vợ tôi vậy. Và tôi nên nói chuyện với ai nếu tôi muốn
tìm hiểu nhiều hơn về các lớp học ngôn ngữ Maori?
Woman: Probably best to talk to the
tutor directly. He’ll be in the office in about half an hour. His name’s
Jason Kahui. That’s K-A-H-U-I (Q8).
Người
phụ nữ. Có lẽ tốt nhất là nói chuyện trực tiếp với gia sư. Ông ấy sẽ ở văn
phòng sau khoảng nửa giờ nữa. Tên ông ấy là Jason Kahui, K-A-H-U-I.
Man: Good –
I’ll give him a call.
Người
đàn ông: Tốt quá – Tôi sẽ gọi cho ông ấy.
Woman: Oh, if you do decide to come to
the photography class, don’t forget to look at your
camera battery and make sure it’s charged (Q9). I
know it sounds obvious but I’ve seen a few people suddenly find the camera’s
stopped working right in the middle of class.
Người
phụ nữ. Oh, nếu bạn quyết định đến với lớp học nhiếp ảnh, đừng quên nhìn vào
pin máy ảnh của bạn và đảm bảo rằng nó đã được sạc. Tôi biết điều này nghe có vẻ
hiển nhiên nhưng tôi đã thấy một vài người bất ngờ nhận ra máy ảnh ngừng hoạt động
ngay giữa buổi học.
Man: Yes, I
can imagine it’d be easy to forget that. Oh, that reminds me, in the final week of the photography
course, is it right that there’s a visit to a show in the local area? I
work in the city, you see, so I might have to come home early for that one.
Người
đàn ông: Vâng, tôi có thể tưởng tượng được là rất dễ quên việc này. Oh, điều
này nhắc nhở tôi, trong tuần cuối cùng của khóa học nhiếp ảnh, có phải là sẽ có
một cuộc tham quan một buổi triển lãm ở vùng địa phương không? Tôi làm việc ở
thành phố, bạn biết đấy, vậy nên có lẽ tôi phải về nhà sớm hơn vì việc
đó.
Woman: Yes (Q10).
They’ll decide the date once the class has started. Is there anything else I
can…
Người
phụ nữ: Vâng. Họ sẽ quyết định ngày đi khi lớp học bắt đầu. Còn vấn đề nào khác
mà tôi có thể..
|
Đáp án |
Từ vựng trong câu hỏi |
Từ/ cụm từ trong scripts |
|
Q1. 7.30 |
||
|
Q2. pencils |
Set of
pencils |
Some
pencils |
|
Q3. top |
||
|
Q4. August |
Starts |
Has been
delayed until August |
|
Q5. instructions |
Bring
instructions |
Have the
instructions that go with …. |
|
Q6. 55 |
||
|
Q7. beginners |
Suit
people |
Is
designed for |
|
Q8. Kahui |
||
|
Q9. battery |
Check the
battery |
Look at
your camera battery |
|
Q10. show |
A trip to
a local show |
A visit to
a show |
PART 2
Good
morning. It’s great to see so many people here. Thank you all very much for
coming. Well, as you know, the community gardens that Hadley Park are really
not looking as good as they should, quite bad really, and although the local
council has a budget to deal with some of the problems, we do need volunteers
for other tasks.
Buổi
sáng tốt lành. Thật tuyệt khi thấy nhiều người ở đây. Cảm ơn tất cả các bạn rất
nhiều vì đã đến. Như bạn biết đấy, những khu vườn cộng đồng ở Hadley Park thực
sự trông không được như ý, thực sự rất tệ, và mặc dù hội đồng địa phương có
ngân sách để giải quyết một số vấn đề, chúng tôi cần tình nguyện viên cho những
nhiệm vụ khác.
If you don’t
mind, I’m going to divide you into two groups. So everyone on this side of the
room is Group A and the rest of you, are group B. So Group A there are a couple
of things we’d like you to help with. First of all, don’t worry about any
litter or empty bottles you see lying about – one of the local schools has
offered to help out with that as part of their own environmental project.
Nếu
bạn không phiền, tôi sẽ chia các bạn thành hai nhóm. Tất cả mọi người ở phía
bên này của căn phòng là nhóm A và phần còn lại là nhóm B. Nào nhóm A, có một số
điều chúng tôi muốn các bạn giúp đỡ. Trước hết, đừng lo lắng về rác thải hoặc vỏ
chai mà các bạn thấy đang nằm ở đó – một trong những trường học địa phương đã đề
nghị giúp đỡ dọn chúng như một phần của dự án môi trường của riêng họ.
The priority
for you will be to give us a hand with the new wooden fencing it needs
constructing along parts of the bicycle track as there are parts which
have now fallen down or broken (Q11 & Q12). As I’m
sure you’ve seen, you probably also noticed that some of the pathways that come
from the bicycle track are quite narrow, and there are plans to make them
wider. But the council will be dealing with that later in the year and they’ve
also promised to produce some informational signs about the plants in the
gardens. Hopefully, they’ll be up in a few weeks’ time.
Ưu
tiên dành cho bạn là giúp chúng tôi công việc sửa lại hàng rào bằng gỗ mới mà
nó cần xây dọc theo các phần của đường xe đạp vì có những phần hiện đã bị đổ hoặc
hỏng. Như tôi chắc chắn các bạn đã thấy, các bạn có thể cũng nhận thấy rằng một
số lối đi từ đường dành cho xe đạp khá hẹp và chúng tôi đã có kế hoạch mở rộng
nó. Nhưng hội đồng sẽ giải quyết vấn đề đó vào cuối năm nay và họ cũng đã hứa sẽ
đưa ra một số dấu hiệu thông tin về các loại cây trong vườn. Hy vọng rằng chúng
sẽ hoạt động trong vài tuần tới.
The other thing
we’re doing is getting rid of some of the foreign species that are growing in
the gardens and putting back some native plants and trees. So you’ll
be doing some digging for us and getting those into the ground (Q11
& Q12).
Điều
khác mà chúng tôi đang làm là loại bỏ một số loài ngoại lai đang phát triển
trong vườn và trồng lại một số cây bản địa. Vì vậy, các bạn sẽ thực hiện một số
việc liên quan đến đào bới và trồng cây.
So Group A,
there are some items you’ll need to bring along with you. I was going to say
raincoat, but the forecast has changed so you can leave those at home. I definitely recommend a
strong pair of boots. Waterproof would be best. It’s quite muddy at the moment
and your own gloves would also be advisable (Q13 & Q14).
Tools will be available, spades and hammers, that kind of thing. You just need
to make sure they go back in the trucks and oh, there’s no need to worry about
food and drink as we’ll be supplying sandwiches and coffee possibly some
biscuits, even!
Nào,
Nhóm A, có một số vật dụng các bạn cần mang theo bên mình. Tôi định nói áo mưa,
nhưng dự báo đã thay đổi nên bạn có thể để chúng ở nhà. Tôi chắc chắn khuyên
mang một đôi bốt chắc chắn. Không thấm nước sẽ là tốt nhất. Hiện tại, khu vực
khá lầy lội và bạn cũng nên dùng găng tay của riêng mình. Công cụ sẽ có sẵn,
thuổng và búa, những thứ kiểu vây. Bạn chỉ cần đảm bảo rằng mang chúng quay trở
lại xe tải và ồ, bạn cũng không cần phải lo lắng về đồ ăn và thức uống vì chúng
tôi sẽ cung cấp bánh mì sandwich và cà phê, thậm chí có thể là một ít bánh quy!
Okay, Group
B, your turn. Does everyone have a copy of the plan? Oh, great. Okay, we’ll all
be meeting in the car park that’s on the bottom of the plan see. Now, if you’ve been assigned to the vegetable
beds to get there, you go out of the car park and go up the footpath until
you reach the circle of trees. There they are – in the middle of the plan, and
you see that the footpath goes all the way around them. Well, on the left-hand
side of that circular footpath, there’s a short track which takes you
directly to the vegetable beds (Q15). You could see a
bamboo fence marked just above them.
Được
rồi, nhóm B, đến lượt các bạn. Mọi người có một bản sao của sơ đồ không? Ồ, tuyệt.
Được rồi, tất cả chúng ta sẽ gặp nhau ở bãi đỗ xe ở đáy bản đồ. Bây giờ, nếu bạn
đã được chỉ định đến các luống rau, để đến đó, bạn ra khỏi bãi đậu xe và đi lên
lối đi bộ cho đến khi bạn đến vòng tròn cây. Đây rồi, chúng ở đây, và bạn thấy
rằng lối đi bộ đi xung quanh vòng tròn cây. Chà, ở phía bên trái của lối đi bộ
hình tròn đó, có một đoạn đường ngắn đưa bạn đến thẳng những luống rau. Bạn có
thể thấy một hàng rào tre được đánh dấu ngay phía trên chúng.
Alright.
Okay. If you’re helping out with the beehives, pay attention. Look again at the
circle of trees in the middle of the plan and the footpath that goes around
them. On the right side of that circle,
you can see that the footpath goes off in an easterly direction, heading
towards the right-hand side of the plan. And then the path splits into two and
you can either go up or down. You want the path that heads down, and at the end
of this, you see two areas divided by a bamboo fence. And as we’re looking at
the plan, the beehives are on the right of the fence. The
smaller section, I mean (Q16). Now, don’t worry. All these have
been removed. You just need to transport the hives back to the car park.
Ok.
Được rồi. Nếu bạn giúp làm công việc với các tổ ong, hãy chú ý. Nhìn lại vòng
tròn cây ở giữa bản đồ và lối đi bộ xung quanh chúng. Ở phía bên phải của vòng
tròn đó, bạn có thể thấy rằng lối đi bộ đi theo hướng đông, hướng về phía bên
phải của bản đồ. Và sau đó lối đi chia thành hai và bạn có thể đi lên hoặc đi
xuống. Bạn sẽ chọn con đường đi xuống, và ở cuối đoạn đường này, bạn thấy hai
khu vực được phân chia bởi một hàng rào tre. Và khi nhìn vào bản đồ, tổ ong sẽ ở
bên phải hàng rào. Ý tôi là, phần nhỏ hơn bây giờ. Đừng lo lắng. Không còn ong
đâu. Bạn chỉ cần vận chuyển tổ ong về bãi đỗ xe.
Okay, for this
seating, look at the circular footpath at the top of it. There’s a
path that goes from there and takes you up to the seating area alongside
the bicycle track and with a good view of the island, I suppose (Q17).
Được
rồi, đối với chỗ ngồi, hãy nhìn vào lối đi bộ hình tròn, ở trên cùng của nó. Có
một con đường đi từ đó và đưa bạn đến khu vực chỗ ngồi dọc theo đường dành cho
xe đạp và với tầm nhìn đẹp ra hòn đảo, tôi cho là vậy.
Okay, if you’re
volunteering for the adventure playground area, let’s start from the car park
again and go up the footpath but then you want the first left hand. Go out
there and then you see, there’s a short path that goes off to the right.
Go down there and that’s the adventure playground area above the bamboo
fence (Q18). That fence does need repairing, I’m afraid.
Được
rồi, nếu bạn tình nguyện tham gia khu vực sân chơi mạo hiểm, hãy bắt đầu lại từ
bãi đỗ xe và đi lên lối đi bộ nhưng sau đó bạn sẽ rẽ tay trái đầu tiên. Hãy đi
ra ngoài đó và bạn sẽ thấy, có một con đường ngắn đi về phía bên phải. Đi vào đó
và đó là khu vực sân chơi mạo hiểm phía trên hàng rào tre. Tôi e rằng hàng rào
đó cần sửa chữa lại.
Right. What
else? Oh, yes, the sand area. We’ve got
that circular footpath in the middle. Find the track that goes
east towards the right-hand side of the plan and where that track divides,
you need the little path that goes up towards the bicycle track. The
sand area is just above the bamboo fence there (Q19).
OK,
Còn gì nữa nhỉ? Ồ, phải, vùng cát. Đến vòng tròn ở giữa trung tâm. Tìm đường đi
về phía đông về phía bên phải của bản đồ và nơi đường phân chia, bạn sẽ đi con
đường nhỏ đi lên về phía đường dành cho xe đạp. Khu vực cát ngay phía trên hàng
rào tre ở đó.
And
finally, the pond area. So it’s on the left-hand side of your
plan – towards the top – just above the fruit bushes,
and to the left of the little path (Q20). Okay. As I
said already, hopefully, we’ll…
Và
cuối cùng là khu vực ao. Nó nằm ở phía bên trái của bản đồ – về phía trên cùng
– ngay phía trên những bụi cây ăn quả và bên trái của con đường nhỏ. Được chứ.
Như tôi đã nói, hy vọng, chúng ta sẽ…
PART 3
Anna: Hi,
Robert.
Anna:
Xin chào, Robert.
Robert: Hi.
Sorry, I’m late. I was just printing off some pages about food waste in
Britain.
Robert:
Xin chào. Xin lỗi tôi tới trễ. Tôi chỉ đang in ra một số trang về rác thải thực
phẩm ở Anh.
Anna: Do you
want to include Britain in the presentation? I thought we were concentrating on
the USA.
Anna:
Bạn có muốn đưa Anh vào bài thuyết trình không? Tôi nghĩ chúng ta đang tập
trung vào Hoa Kỳ.
Robert:
Well, it is a global problem. So I thought we ought to provide some statistics
that show that.
Robert:
Đó là một vấn đề toàn cầu. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta nên cung cấp một số thống
kê cho thấy điều đó.
Anna: Fair
enough. What did you find out?
Anna:
Hợp lý. Bạn đã tìm được gì?
Robert: Well, I was looking at
a British study from 2013. It basically concluded that £12 billion worth
of food and drink was thrown away each year – all of it
ending up in landfill sites (Q21). Over eight million tons –
and that wasn’t including packaging.
Robert:
Chà, tôi đang xem một nghiên cứu của Anh từ năm 2013. Về cơ bản, nó kết luận rằng
12 tỷ bảng tiền đồ ăn và thức uống bị vứt bỏ mỗi năm – tất cả cuối cùng đều nằm
trong các bãi rác. Hơn tám triệu tấn – và đó không bao gồm bao bì.
Anna: An
incredible amount?
Anna:
Một con số đáng kinh ngạc?
Robert: Yes,
and they were only looking at what households threw away. So there’s no
information about restaurants and the catering industry. But one thing the
study did investigate was the amount of milk and soft drinks that were wasted.
And I think it was probably quite unique in that respect.
Robert:
Ừ, và họ chỉ xem xét những thứ mà các hộ gia đình đã vứt bỏ. Vì vậy, không có
thông tin về nhà hàng và ngành dịch vụ ăn uống. Nhưng một điều mà nghiên cứu đã
điều tra là lượng sữa và nước ngọt bị lãng phí. Và tôi nghĩ nó có lẽ khá độc
đáo về mặt đó.
Anna:
Interesting. You know, in the other European reports, I read there’s one thing
they have in common when they talk about carbon dioxide emissions.
Anna:
Thật thú vị. Bạn biết đấy, trong các báo cáo khác của Châu Âu, tôi đọc thấy có
một điểm chung mà họ nói về lượng khí thải carbon dioxide.
Robert: I know what you’re going to say.
They never refer to the fuel that farms and factories required to produce
the food and the carbon dioxide that releases (Q22).
Robert:
Tôi biết bạn sẽ nói gì. Họ không bao giờ đề cập đến nhiên liệu mà các trang trại
và nhà máy yêu cầu để sản xuất thực phẩm và carbon dioxide thải ra.
Anna:
Exactly, we could really cut down on carbon emissions if less food was supplied
in the first place. To my mind, the reports talked too much about the carbon
dioxide produced by the trucks that deliver the fresh goods to the shops and
take the waste away. They forget about one of the key causes of carbon dioxide.
Anna:
Chính xác, chúng ta thực sự có thể cắt giảm lượng khí thải carbon nếu ngay từ đầu
cung cấp ít thực phẩm hơn. Theo suy nghĩ của tôi, các báo cáo đã nói quá nhiều
về khí carbon dioxide được tạo ra bởi các xe tải vận chuyển hàng tươi sống đến
các cửa hàng và đưa chất thải đi. Họ quên mất một trong những nguyên nhân chính
của carbon dioxide.
Robert:
Absolutely. If the reports are actually going to be useful to people, they need
to be more comprehensive.
Robert:
Chuẩn luôn. Nếu các báo cáo muốn thực sự hữu ích cho mọi người, chúng cần phải
toàn diện hơn.
Anna: Who do
you mean by people?
Anna:
Ý bạn là ai?
Robert:
Well, the government industries, people making television programs. Have you
seen any documentaries about food waste?
Robert:
Chà, các ngành công nghiệp của chính phủ, những người làm các chương trình truyền
hình. Bạn đã xem phim tài liệu nào về rác thải thực phẩm chưa?
Anna: Not
that I remember.
Anna:
Tôi nhớ là chưa.
Robert: My
point exactly. These days,
they all seem to be focusing on where your meat, fruit, and vegetables are
sourced from (Q23). We’re being encouraged to buy locally,
not from overseas. That’s probably a good thing, but I’d still like to see
something about waste.
Robert:
Đó là ý của tôi đó. Ngày này, tất cả họ dường như đang tập trung vào nơi thịt,
trái cây và rau chúng ta ăn có nguồn gốc từ đâu. Chúng ta được khuyến khích mua
trong nước, không mua từ nước ngoài. Đó có lẽ là một điều tốt, nhưng tôi vẫn muốn
thấy điều gì đó về chất thải.
Anna: Yes,
it’s the same with magazine articles. It’s all about fat and sugar content and
the kind of additive and coloring in food, but nothing about how it reaches
your table and what happens after it ends up in the bin.
Anna:
Ừ, các bài báo trên tạp chí cũng vậy. Chúng toàn nói về hàm lượng chất béo và
đường cũng như loại phụ gia và phẩm màu trong thực phẩm, nhưng chẳng nói gì về
cách thức thực phẩm này được mang đến bàn ăn và điều gì sẽ xảy ra sau khi chúng
bị vứt vào thùng rác.
Robert:
Well, we’ve only got 15 minutes for this presentation, so I think we’ll have to
limit what we say about the consequences of food waste. What do we want to
concentrate on?
Robert:
Chà, chúng ta chỉ có 15 phút cho bài thuyết trình này, vì vậy tôi nghĩ chúng ta
sẽ phải hạn chế những gì chúng ta nói về hậu quả của việc lãng phí thực phẩm.
Chúng ta sẽ tập trung vào điều gì?
Anna: Well,
I know some of the other presentations are looking at food and farming methods
and what they do to the environment. So I think we’ll avoid that. And the fact
that in some countries, people can’t afford the food grown on their own farms –
that was covered last term.
Anna:
À, tôi biết một số bài thuyết trình khác xem xét thực phẩm và các phương pháp
canh tác cũng như những gì chúng làm đối với môi trường. Vì vậy, tôi nghĩ chúng
ta sẽ tránh điều đó. Và thực tế là ở một số quốc gia, mọi người không thể mua
thực phẩm được trồng trong trang trại của chính họ – điều đó đã được đề cập
trong kỳ trước.
Robert:
Okay, we don’t want to repeat stuff.
Robert:
Được rồi, chúng ta không cần lặp lại chủ đề cũ làm gì cả.
Anna: What concerns me above all
else is that in a recession, governments should be encouraging business to
find ways to cut costs. Apparently, supermarkets in the USA lose about 11% of
their fruit to waste. That’s throwing money away (Q24).
Anna:
Điều khiến tôi quan tâm hơn cả là trong thời kỳ suy thoái, các chính phủ nên
khuyến khích các doanh nghiệp tìm cách cắt giảm chi phí. Rõ ràng, các siêu thị ở
Mỹ đang lãng phí 11% trái cây của họ. Đúng là ném tiền qua cửa sổ.
Robert: All
right, we’ll focus on that problem. It should get the other’s attention anyway.
Now, how do you want to begin the presentation? Let’s not start with
statistics, though, because that’s what everybody does.
Robert:
Được rồi, chúng ta sẽ tập trung vào vấn đề đó. Dù sao thì nó cũng sẽ thu hút sự
chú ý của người khác. Bây giờ, bạn muốn bắt đầu bài thuyết trình như thế nào?
Tuy nhiên, chúng ta đừng bắt đầu với số liệu thống kê, vì đó là điều mà mọi người
đều làm.
Anna: I
agree. How about we give the other
students a set of questions to answer about what they suspect they
waste every day?
Anna:
Tôi đồng ý. Chúng ta đưa ra một bộ câu hỏi cho các học sinh khác trả lời về những
gì họ nghi ngờ họ lãng phí hàng ngày. Ổn không nhỉ?
Robert: I’m fine with that (Q25).
Probably a better option than showing pictures of landfill sites. It will be
more personalized that way.
Robert:
Ổn đấy. Một lựa chọn có lẽ tốt hơn là hiển thị hình ảnh của các bãi rác. Nó sẽ
được cá nhân hóa theo cách đó.
Anna: All
right, now, let’s start.
Anna:
Được rồi, bây giờ, chúng ta hãy bắt đầu.
Robert:
Okay, Shall we now have a look at the projects that different researchers and
organizations are working on?
Robert:
Được rồi, bây giờ chúng ta sẽ xem xét các dự án mà các nhà nghiên cứu và tổ chức
khác nhau đang thực hiện chứ?
Anna: For me, the project I really
liked was the one at Tufts University. You know where they’ve invented
tiny edible patches to stick on fresh foods that show you what level
of bacteria is present and so whether you can still eat it.
Anna:
Đối với tôi, dự án mà tôi thực sự thích là ở Đại học Tufts. Bạn biết họ đã phát
minh ra những miếng dán nhỏ có thể ăn được ở đâu để dán lên thực phẩm tươi sống,
cho bạn biết mức độ vi khuẩn hiện có và liệu bạn có thể ăn được hay không.
Robert: It’s
a great idea, as it tells you if you need to hurry up and eat the food before
it goes off. The other good thing about the
patches is that apparently, they’ll be cheap to manufacture (Q26).
Robert:
Đó là một ý tưởng tuyệt vời, vì nó cho bạn biết liệu bạn có cần phải ăn nhanh
thức ăn trước khi nó hỏng hay không. Một điều tốt khác về các miếng dán là rõ
ràng, sản xuất chúng sẽ rất rẻ.
Anna: Good.
Then the other thing I thought was great was the Massachusetts Institute of
Technology Project.
Anna:
Tốt. Một điều khác mà tôi nghĩ rất tuyệt vời là Dự án của Viện Công nghệ
Massachusetts.
Robert: I
hadn’t seen that.
Robert:
Tôi không biết.
Anna: Well,
they’ve developed these sensors that can detect tiny amounts of ethylene.
Ethylene is the natural plant hormone in fruit that makes them turn ripe. Apparently, the researchers think
that they can attach the sensors to cardboard boxes, and then
supermarkets can scan the sensors with a portable device to see how ripe the
fruit inside it. That’s got to be a quicker way to check for
rightness than taking each box off the shelf and opening it (Q27).
Anna:
Chà, họ đã phát triển những cảm biến có thể phát hiện một lượng nhỏ ethylene.
Ethylene là hormone thực vật tự nhiên trong trái cây khiến chúng chín. Rõ ràng,
các nhà nghiên cứu nghĩ rằng họ có thể gắn các cảm biến vào hộp các-tông, và
sau đó các siêu thị có thể quét cảm biến bằng một thiết bị cầm tay để xem độ
chín của trái cây. Đó là cách nhanh hơn để kiểm tra thay vì lấy từng hộp ra khỏi
kệ và mở ra kiểm tra.
Robert:
Definitely. And I thought that Lynn Path was worth mentioning too. Their waste tracking technology
means that caterers can see how much food is being wasted and why
that’ll increase profits for them eventually (Q28).
Robert:
Rõ ràng. Và tôi nghĩ rằng Lynn Path cũng đáng được nhắc đến. Công nghệ theo dõi
chất thải của họ đồng nghĩa với việc các nhà cung cấp dịch vụ ăn uống có thể biết
lượng thực phẩm đang bị lãng phí và lý do tại sao điều đó cuối cùng sẽ làm tăng
lợi nhuận cho họ.
Anna: Yes,
and did you read about Zero Percent? They’ve
produced this smartphone application that allows restaurants to
send donation alerts to food charities. The charities can then pick up the
unwanted food and distribute it to people in need (Q29).
Anna:
Có, và bạn đã đọc về Zero Percent chưa? Họ đã sản xuất ứng dụng điện thoại
thông minh cho phép các nhà hàng gửi thông báo quyên góp đến các tổ chức từ thiện
thực phẩm. Sau đó, các tổ chức từ thiện có thể lấy thực phẩm bị bỏ đi và phân
phát cho những người có nhu cầu.
Robert: In the
long run, that’ll definitely benefit poor families in the neighborhood. No kid
should go to school hungry.
Robert:
Về lâu dài, điều đó chắc chắn sẽ có lợi cho các gia đình nghèo trong khu phố. Sẽ
không có đứa trẻ nào mang cái bụng đói meo đi học cả.
Anna: I
agree. And I read that quite a few local governments in the USA are thinking
about introducing compulsory composting in their states. So you can’t put any
food waste into your rubbish bins. Just the compost bin.
Anna:
Tôi đồng ý. Và tôi đọc được rằng khá nhiều chính quyền địa phương ở Hoa Kỳ đang
nghĩ đến việc áp dụng chế độ ủ phân bắt buộc ở các bang của họ. Vì vậy, họ
không thể bỏ bất kỳ chất thải thực phẩm nào vào thùng rác của mình. Chỉ thùng ủ
mà thôi.
Robert:
Well, I guess that means a bit more work for people. I mean, they have to
separate the organic and inorganic waste themselves before they take it out to
the compost bin, and you know how lazy some people are. But I guess if we all
start composting, we’d be doing something positive about the problem
of food waste ourselves rather than relying on the government to sort it
out (Q30). Having said that, not everyone has a garden so…
Robert:
Chà, tôi đoán điều đó có nghĩa là nhiều công việc hơn cho mọi người. Ý tôi là,
họ phải tự phân loại rác hữu cơ và vô cơ trước khi đem ra thùng ủ, và bạn biết
một số người lười biếng như thế nào. Nhưng tôi đoán nếu tất cả chúng ta bắt đầu
làm việc đó, chúng ta sẽ tự mình làm điều gì đó tích cực về vấn đề rác thải thực
phẩm hơn là dựa vào chính phủ để phân loại nó. Phải nói rằng, không phải ai
cũng có vườn nên…
Vocabulary
end up +
adv./prep. (phrasal verb): cuối cùng ở
comprehensive /ˌkɒmprɪˈhensɪv/
(adj): toàn diện
PART 4
Well, good
morning, everyone. As you know, we’ve been looking at different kinds of art
and craft that were practiced by the Maori people of New Zealand at least
before the Europeans began to arrive in the 18th century. So the focus of this
lecture is kite making. How the kites were made, their appearance, and the
purposes they served.
Chào
buổi sáng, mọi người. Như các bạn đã biết, chúng ta đã xem xét các loại hình
nghệ thuật và thủ công khác nhau đã được người Maori ở New Zealand thực hiện ít
nhất là trước khi người châu Âu bắt đầu đến vào thế kỷ 18. Trọng tâm của bài giảng
này là làm diều. Làm thế nào những con diều được tạo ra, hình dáng và mục đích
của chúng.
Well, let’s
start with the way they were made. As with other Maori artistic traditions,
kite making involved certain rituals. So firstly, only priests were allowed to
fly and handle the largest, most sacred kites. There were rules, too, for the
size and scale of the kites that the priests had to follow. And during the preparation
of both small and large kites, food was strictly
forbidden (Q31).
Vâng,
hãy bắt đầu với cách chúng được tạo ra. Cũng như các truyền thống nghệ thuật
khác của người Maori, việc làm diều bao gồm một số nghi lễ nhất định. Trước hết,
chỉ có các linh mục mới được phép thả và cầm những con diều lớn nhất, linh
thiêng nhất. Cũng có những quy tắc về kích thước và quy mô của những con diều
mà các thầy tu phải tuân theo. Và trong quá trình chuẩn bị diều lớn và nhỏ, thức
ăn bị nghiêm cấm.
In terms of
appearance, kites were frequently designed in the image of a native
bird or a Maori God, and sometimes perhaps less often a well-known hero (Q32). You can
imagine that when Maori first arrived in the new country in New Zealand, it may
have taken some time to find suitable materials for their kites – but through
trial and error no doubt, they found plants and trees that provided bark and
even roots that they could use to make the frames and wings of their
kites. And after the frame had been
constructed, the kite then had to be decorated. For this, the priests used
long grasses and these, when the kite was in the air, would stream
along behind it. They also used a variety of feathers to add color to
their creations (Q33). Well, all this meant it was easy to see
a kite in the sky, but you could also hear Maori kites. They could be
quite noisy indeed, and this was because some priests liked to hang a
long row of shells from the kite (Q34). You can
imagine how they’d rattle and clatter in the wind – how they might completely
capture your attention.
Về
hình thức, diều thường được thiết kế theo hình ảnh một loài chim bản địa hoặc
Thần Maori, và ít thường xuyên hơn là một anh hùng được nhiều người biết đến. Bạn
có thể tưởng tượng rằng khi người Maori lần đầu tiên đến đất nước mới ở New
Zealand, có thể mất một khoảng thời gian để họ tìm vật liệu phù hợp cho diều –
nhưng qua quá trình thử nghiệm và gặp nhiều sai sót, họ đã tìm thấy những cây
cung cấp vỏ và thậm chí cả rễ mà họ có thể sử dụng để làm khung và cánh diều.
Và sau khi khung đã được dựng xong, con diều sau đó phải được trang trí. Để làm
được điều này, các linh mục đã sử dụng những loại cỏ dài và những loại cỏ này,
khi con diều bay cao, sẽ bay dọc theo phía sau diều. Họ cũng sử dụng nhiều loại
lông vũ để tạo thêm màu sắc cho các tác phẩm của mình. Chà, tất cả điều này có
nghĩa là bạn có thể dễ dàng nhìn thấy một cánh diều trên bầu trời, nhưng bạn
cũng có thể nghe thấy tiếng diều của người Maori. Chúng thực sự có thể khá ồn
ào, và điều này là do một số linh mục thích treo một hàng dài vỏ sò từ cánh diều.
Bạn có thể tưởng tượng cách chúng kêu lách cách trong gió – cách chúng có thể
thu hút hoàn toàn sự chú ý của bạn.
As I said
before, the most common image was probably a bird, and that’s the same for
other kite-making cultures. But the kites
were designed in particular shapes, so there were kites that
were triangular, rectangular, and also shaped like
a diamond (Q35). And some of them were so large – it
would actually require several men to operate them. Hmm, some of the kites were also
covered in patterns, and to make these patterns, the Maori used different
pigments of red and black. And these were either made from a charcoal base
or from red-brown clay, which had been combined with oil obtained
from a local species of shark (Q36).
Như
tôi đã nói trước đây, hình ảnh phổ biến nhất có lẽ là một con chim và điều đó
cũng tương tự đối với các nền văn hóa làm diều khác. Nhưng những con diều được
thiết kế theo những hình dạng đặc biệt, vì vậy có những con diều có hình tam
giác, hình chữ nhật, và cũng có hình thoi. Và một số diều thì quá lớn – nó thực
sự sẽ cần vài người đàn ông để thả. Hmm, một số con diều cũng được trang trí
hoa văn, và để tạo ra những hoa văn này, người Maori đã sử dụng các sắc tố đỏ
và đen khác nhau. Và chúng được làm từ than củi hoặc từ đất sét nâu đỏ, được kết
hợp với dầu lấy được từ một loài cá mập địa phương.
Now, before
I forget, if you have a chance, do visit the Auckland Museum because they have
the last surviving ‘birdman’ kite on display. This is the kind of kite that has
a wooden mask at the top of the frame. It’s a mask of a human head, and you can clearly see it
has a tattoo and also a set of teeth (Q37).
Quite impressive and a good example of Maori craftsmanship, and symbolism.
Bây
giờ, trước khi tôi quên, nếu bạn có cơ hội, hãy ghé thăm Bảo tàng Auckland vì họ
có trưng bày con diều ‘người chim’ cuối cùng còn sót lại. Đây là loại diều có mặt
nạ bằng gỗ ở đầu khung. Đó là một chiếc mặt nạ hình đầu người và bạn có thể thấy
rõ nó có một hình xăm và một bộ răng. Khá ấn tượng và là một ví dụ điển hình về
nghề thủ công của người Maori, và tính biểu tượng của nó.
Turning to
the purpose and function of the kites, they certainly had multiple uses. Primarily, the flying of kites
was a way of communicating with the gods and when the kites rose into
the air, the Maori used them to deliver messages (Q38) –
perhaps requesting a good harvest, good fortune in war, a successful hunting
expedition.
Chuyển
sang mục đích và chức năng của những chiếc diều, chúng chắc chắn có nhiều công
dụng. Về cơ bản, việc thả diều là một cách giao tiếp với các vị thần và khi diều
bay lên không trung, người Maori sử dụng chúng để gửi thông điệp – có lẽ là khẩn
cầu một vụ mùa bội thu, may mắn trong chiến tranh, một cuộc săn bắn thành công.
So these
kites were incredibly valuable to a community – treasured objects that one
generation would pass to the next. People would
also fly kites for other reasons, for example, to attract the attention of
a neighboring village. This was done when a meeting was required
(~ needed) between Maori elders, a convenient method indeed (Q39).
And finally, when it comes to war, there are traditional stories that describe
how when a Maori warrior found
himself surrounded by his enemies, a kite could actually provide the
possibility of escape (Q40) – the kites were
powerful enough to take a man up into the air, and for this reason, they could
also be used to lower him into enemy fortifications so that an attack could
begin from the inside. Well, I’m happy to say there seems to be a revival and
growing interest in kite making, and…
Những
chiếc diều này vô cùng có giá trị đối với một cộng đồng – những vật quý giá
truyền từ đời này sang đời khác. Mọi người cũng sẽ thả diều vì những lý do
khác, chẳng hạn, để thu hút sự chú ý của một ngôi làng lân cận. Điều này được
thực hiện khi cần có một cuộc họp giữa các trưởng lão Maori, một phương pháp thực
sự thuận tiện. Và cuối cùng, khi nói đến chiến tranh, có những câu chuyện lưu
truyền mô tả khi một chiến binh Maori bị bao vây bởi kẻ thù, một con diều thực
sự có thể cung cấp khả năng trốn thoát – những con diều đủ mạnh để đưa một người
lên không trung, và vì lý do này, chúng cũng có thể được sử dụng để hạ anh ta
vào pháo đài của đối phương để một cuộc tấn công từ bên trong có thể bắt đầu.
Chà, tôi rất vui khi nói rằng dường như có một sự hồi sinh và ngày càng nhiều
người quan tâm đến việc làm diều, và …
ĐÁP ÁN
Đáp án
Q1. 7.30
Q2. pencils
Q3. top
Q4. August
Q5. instructions
Q6. 55
Q7. beginners
Q8. Kahui
Q9. battery
Q10. Show
Đáp án
Q11 & Q12. B E
Q13 & Q14. B C
Q15. G
Q16. I
Q17. B
Q18. E
Q19. C
Q20. A
Đáp án
Q21. C
Q22. A
Q23. B
Q24. C
Q25. A
Q26. G
Q27. A
Q28. D
Q29. C
Q30. E
Đáp án
Q31. food
Q32. hero
Q33. feathers
Q34. shells
Q35. diamond
Q36. shark
Q37. teeth
Q38. messages
Q39. meeting
Q40. escape


0 Nhận xét