1.
In the first half of the
1800s, London’s population grew at an astonishing rate, and the central area
became increasingly congested. In addition, the expansion of the overground
railway network resulted in more and more passengers arriving in the capital.
However, in 1846, a Royal Commission decided that the railways should not be
allowed to enter the City, the capital’s historic and business centre. The
result was that the overground railway stations formed a ring around the City.
The area within consisted of poorly built, overcrowded slums and the streets
were full of horse-drawn traffic. Crossing the City became a nightmare. It
could take an hour and a half to travel 8 km by horse-drawn carriage or bus.
Numerous schemes were proposed to resolve these problems, but few succeeded.
·
nightmare (noun): cơn ác mộng
·
ENG:
a dream that is very frightening or unpleasant
Trong nửa đầu những năm 1800, dân số London
tăng với tốc độ đáng kinh ngạc, và khu vực trung tâm ngày càng trở nên tắc
nghẽn. Ngoài ra, việc mở rộng mạng lưới đường sắt trên cao khiến lượng hành
khách đến thủ đô ngày càng nhiều. Tuy nhiên, vào năm 1846, Ủy ban Hoàng gia đã
quyết định rằng đường sắt không được phép đi vào Thành phố, nơi mà là trung tâm
lịch sử và kinh doanh của thủ đô. Kết quả là các ga tàu điện ngầm đã hình thành
xung quanh Thành phố. Khu vực bên trong bao gồm những khu ổ chuột được xây dựng
tồi tàn, quá đông đúc và các đường phố đông đúc xe ngựa. Vượt qua Thành phố trở
thành một cơn ác mộng. Có thể mất một tiếng rưỡi để đi 8 km bằng xe ngựa hoặc
xe buýt. Nhiều kế hoạch đã được đề xuất để giải quyết những vấn đề này, nhưng
rất ít kế hoạch mang lại thành công.
2. Amongst the most vocal advocates for a solution to
London’s traffic problems was Charles Pearson, who worked as a solicitor for
the City of London. He saw both social and economic advantages in building an
underground railway that would link the overground railway stations together
and clear London slums at the same time. His idea was to relocate the poor
workers who lived in the inner-city slums to newly constructed suburbs, and to
provide cheap rail travel for them to get to work. Pearson’s ideas gained
support amongst some businessmen and in 1851 he submitted a plan to
Parliament. It was rejected, but coincided with a proposal from another group
for an underground connecting line, which Parliament passed.
·
advocate (noun): những người đồng thuận
·
ENG:
a person who supports or speaks in favour of somebody or of a public plan or
action
·
solicitor (noun): luật sư
·
ENG:
a lawyer who prepares legal documents, for example for the sale of land or
buildings, advises people on legal matters, and can speak for them in some
courts of law
Trong số những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho
một giải pháp cho các vấn đề giao thông ở London là Charles Pearson, người từng
làm luật sư cho Thành phố London. Ông đã nhìn thấy lợi thế kinh tế và xã hội
trong việc xây dựng một tuyến đường sắt ngầm kết nối các ga tàu điện ngầm với
nhau và đồng thời xóa sạch các khu ổ chuột ở London. Ý tưởng của ông là chuyển
những người lao động nghèo sống trong các khu ổ chuột trong nội thành ra các
vùng ngoại ô mới xây, và cung cấp dịch vụ đi lại bằng đường sắt giá rẻ để họ
đến nơi làm việc. Ý tưởng của Pearson đã nhận được sự ủng hộ của một số doanh
nhân và vào năm 1851, ông đã đệ trình một kế hoạch lên Quốc hội. Nó đã bị từ
chối, nhưng cùng lúc đó với một đề xuất từ một nhóm khác về một đường dây kết
nối ngầm mà Quốc hội đã thông qua.
3. The two groups merged and established the Metropolitan Railway
Company in August 1854. The company’s plan was to construct an underground
railway line from the Great Western Railway’s (GWR) station at Paddington to
the edge of the City at Farringdon Street – a distance of almost 5 km. The
organisation had difficulty in raising the funding for such a radical and
expensive scheme, not least because of the critical articles printed by the
press. Objectors argued that the tunnels would collapse under
the weight of traffic overhead, buildings would be shaken and passengers would
be poisoned by the emissions from the train engines. However, Pearson and his
partners persisted
·
radical (adj): cấp tiến
·
ENG:
relating to the most basic and important parts of something; complete and
detailed
·
objector (noun): người phản đối
·
ENG:
a person who objects to something
Hai nhóm hợp nhất và thành lập Công ty Đường
sắt Metropolitan vào tháng 8 năm 1854. Kế hoạch của công ty là xây dựng một
tuyến đường sắt ngầm từ ga của Đường sắt Great Western (GWR) tại Paddington đến
rìa Thành phố tại Phố Farringdon – khoảng cách gần 5 km. Tổ chức đã gặp khó
khăn trong việc huy động kinh phí cho một kế hoạch cấp tiến và tốn kém như vậy,
đặc biệt là vì các bài báo phản biện được in trên báo chí. Những người phản đối
lập luận rằng các đường hầm sẽ sụp đổ do sức nặng của giao thông trên cao, các
tòa nhà sẽ bị rung chuyển và hành khách sẽ bị nhiễm độc do khí thải từ động cơ
xe lửa. Tuy nhiên, Pearson và các đối tác của ông vẫn kiên trì
4. The GWR, aware that the new line would finally enable them to run
trains into the heart of the City, invested almost £250,000 in the scheme.
Eventually, over a five-year period, Elm was raised. The chosen route ran
beneath existing main roads to minimise the expense of demolishing buildings.
Originally scheduled to be completed in 21 months, the construction of the
underground line took three years. It was built just below street level using a
technique known as ‘cut and cover’. A trench about ten metres
wide and six metres deep was dug, and the sides temporarily held up with timber
beams. Brick walls were then constructed, and finally a brick arch was
added to create a tunnel. A two-metre-deep layer of soil was laid on top of the
tunnel and the road above rebuilt.
·
demolish (verb): phá dỡ
·
ENG:
to pull or knock down a building; to destroy something
·
trench (noun): rãnh
·
ENG:
a long, deep hole dug in the ground, for example for carrying away water
GWR, biết rằng cuối cùng thì tuyến mới sẽ cho
phép họ chạy các chuyến tàu vào trung tâm Thành phố, họ đã đầu tư gần 250.000
bảng Anh vào kế hoạch này. Cuối cùng, trong khoảng thời gian 5 năm, Elm đã được
nâng lên. Tuyến đường được chọn chạy bên dưới các con đường chính hiện có để
giảm thiểu chi phí phá dỡ các tòa nhà. Việc xây dựng đường dây điện ngầm ban
đầu được dự kiến là kéo dài trong 21 tháng, nhưng thực tế mất tận ba năm. Nó
được xây dựng ngay dưới mặt đường bằng cách sử dụng một kỹ thuật được gọi là
‘cắt và che’. Một rãnh rộng chừng mười mét, sâu sáu mét được đào, hai bên kê
tạm những thanh xà gỗ. Các bức tường gạch sau đó được xây dựng, và cuối cùng
một vòm gạch được thêm vào để tạo ra một đường hầm. Một lớp đất sâu hai mét đã
được đắp lên trên đường hầm và con đường phía trên được xây dựng lại.
Mua sách “Giải chi tiết đáp án IELTS Reading Cambridge
7-19”
5. The
Metropolitan line, which opened on 10 January 1863, was the world’s first
underground railway. On its first day, almost 40,000 passengers were
carried between Paddington and Farringdon, the journey taking about 18 minutes.
By the end of the Metropolitan’s first year of operation, 9.5 million journeys
had been made.
Tuyến Metropolitan, khai trương vào ngày 10
tháng 1 năm 1863, là tuyến đường sắt ngầm đầu tiên trên thế giới. Vào ngày khai
trương, gần 40.000 hành khách đã di chuyển giữa Paddington và Farringdon, hành
trình mất khoảng 18 phút. Vào cuối năm hoạt động đầu tiên của Metropolitan, 9,5
triệu chuyến hành trình đã được thực hiện.
6. Even
as the Metropolitan began operation, the first extensions to the line were
being authorised; these were built over the next five years, reaching Moorgate
in the east of London and Hammersmith in the west. The original plan was to
pull the trains with steam locomotives, using firebricks in the boilers to
provide steam, but these engines were never introduced. Instead, the line used
specially designed locomotives that were fitted with water tanks in which steam
could be condensed. However, smoke and fumes remained a
problem, even though ventilation shafts were added to the tunnels.
·
condense (verb): ngưng tụ
·
ENG:
to change from a gas into a liquid; to make a gas change into a liquid
Ngay cả khi Metropolitan bắt đầu hoạt động, các
phần mở rộng đầu tiên của tuyến đã được cấp phép; những công trình này được xây
dựng trong 5 năm tiếp theo, dẫn đến Moorgate ở phía đông London và Hammersmith
ở phía tây. Kế hoạch ban đầu là các đoàn tàu được kéo bằng đầu máy hơi nước, sử
dụng hỏa tiễn trong nồi hơi để cung cấp hơi nước, nhưng những động cơ này chưa
bao giờ được đưa vào sử dụng. Thay vào đó, con tàu sử dụng các đầu máy được
thiết kế đặc biệt có gắn các bồn chứa nước để hơi nước có thể ngưng tụ. Tuy
nhiên, mặc dù các trục thông gió đã được bổ sung vào đường hầm, khói vẫn là một
vấn đề.
7. Despite
the extension of the underground railway, by the 1880s, congestion on London’s
streets had become worse. The problem was partly that the existing underground
lines formed a circuit around the centre of London and extended to the suburbs,
but did not cross the capital’s centre. The ‘cut and cover’ method of
construction was not an option in this part of the capital. The only
alternative was to tunnel deep underground.
Dù cho tuyến đường sắt ngầm đã được mở rộng,
vào những năm 1880, tình trạng tắc nghẽn trên các đường phố của London ngày
càng trở nên tồi tệ hơn. Vấn đề một phần là do các tuyến tàu điện ngầm hiện có
hình thành một vòng quanh trung tâm London và kéo dài ra các vùng ngoại ô,
nhưng không đi qua trung tâm thủ đô. Phương pháp xây dựng ‘cắt và đắp’ không
phải là một lựa chọn ở khu vực này của thủ đô. Giải pháp thay thế duy nhất là
đào đường hầm sâu dưới lòng đất.
8. Although
the technology to create these tunnels existed, steam locomotives could not be
used in such a confined space. It wasn’t until the development of a reliable
electric motor, and a means of ower from the generator to a moving train, that
the world’s first deep-level electric railway, the City & South London,
became possible. The line opened in 1890, and ran from the City to Stockwell,
south of the River Thames. The trains were made up of three carriages and driven
by electric engines. The carriages were narrow and had tiny windows just
below the roof because it was thought that passengers would not want to look
out at the tunnel walls. The line was not without its problems, mainly caused
by an unreliable power supply. Although the City & South London
Railway was a great technical achievement, it did not make a profit. Then, in
1900, the Central London Railway, known as the ‘Tuppenny Tube’, began operation
using new electric locomotives. It was very popular and soon afterwards new
railways and extensions were added to the growing tube network. By 1907, the
heart of today’s Underground system was in place.
Mặc dù công nghệ có thể được áp dụng để đào các
đường hầm như thế, nhưng đầu máy hơi nước không thể được sử dụng trong một
không gian hạn chế như vậy. Mãi cho đến khi một động cơ điện được phát triển và
một phương tiện tạo điện giúp đoàn tàu đang di chuyển được phát minh, thì tuyến
đường sắt chạy điện tầng sâu đầu tiên trên thế giới, City & South London,
mới trở nên khả thi. Tuyến mở cửa vào năm 1890 và chạy từ Thành phố đến
Stockwell, phía nam sông Thames. Các đoàn tàu được tạo thành từ ba toa và được
điều khiển bằng động cơ điện. Các toa tàu hẹp và có cửa sổ nhỏ ngay dưới mái vì
người ta cho rằng hành khách sẽ không muốn nhìn ra các bức tường của đường hầm.
Đường dây cũng gặp phải nhiều vấn đề, nguyên nhân chủ yếu là do nguồn điện chưa
ổn định. Mặc dù Đường sắt Thành phố & Nam London là một thành tựu kỹ thuật
tuyệt vời, nhưng nó không tạo ra lợi nhuận. Sau đó, vào năm 1900, Đường sắt
Trung tâm Luân Đôn, được gọi là ‘Tuppenny Tube’, bắt đầu hoạt động bằng cách sử
dụng đầu máy điện mới. Nó rất phổ biến và ngay sau đó các tuyến đường sắt và
phần mở rộng mới đã được thêm vào mạng lưới đường ống đang phát triển. Đến năm
1907, trung tâm của hệ thống Tàu điện ngầm ngày nay đã được đặt đúng vị trí.


0 Nhận xét